Thứ tư, 22/05/2019

Giáo Án Giáo Lý Lớn Lên Trong Chúa Thánh Thần Phần I

Cập nhật lúc 07:47 29/05/2018
 
Phần I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
 
 
LỜI NÓI ĐẦU
Những giáo huấn để suy tư:
  • Mục đích của việc dạy giáo lý là mở rộng sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô dựa vào Lời Chúa, để tất cả nhân loại được thấm nhuần bởi Lời ấy. Được biến đổi bởi tác động của ân sủng thành một tạo vật mới, như thế Kitô hữu tự mình theo Đức Kitô và học hỏi càng ngày càng nhiều trong Hội Thánh để suy nghĩ như Người, phán đoán như Người, hành động theo mệnh lệnh của Người, và hy vọng như Người mời gọi chúng ta” (Th DGL số 20)
  • “Công đồng Vaticano II muốn rằng “thừa tác vụ Lời Chúa – mục vụ giảng dạy, dạy giáo lý, và tất cả các hình thức giáo huấn Kitô khác… - phải được nuôi dưỡng đầy đủ và lớn mạnh trong sự thánh thiện nhờ Lời Thánh Kinh” (Th DGL số 27)
  • “Kinh Thánh là linh hồn của việc giảng dạy giáo lý”. Chính vì thế khoa giáo lý phải thấm nhuần và nắm vững tư tưởng, tinh thần và các thái độ Kinh Thánh và Tin Mừng, nhờ việc chuyên cần tiếp xúc với chính bản văn… và đọc các bản văn này với khối óc và con tim của Giáo Hội” (Th VD số 74)
  1. Những phương thế để thực hiện:
  • Áp dụng việc “Dạy giáo lý theo bản văn Tin Mừng” qua việc soạn Giáo án ĐẾN BÀN TIỆC THÁNH, LỚN LÊN TRONG CHÚA THÁNH THẦN & SỐNG ĐẠO. Khi soạn thảo chúng tôi đã phân chia cách thích hợp theo chương trình của Giáo phận Xuân Lộc (3 năm). Tuy nhiên vẫn tùy theo chương trình học và hoàn cảnh của mỗi Giáo xứ để sử dụng. 
  • Để học tập tốt, các học viên nên có sách Tin Mừng để chính các em có dịp tiếp cận và làm quen với bản văn Kinh Thánh.
Một số điều Bạn nên biết khi sử dụng giáo án này: 
  • Kinh Thánh: Trích dẫn theo bản dịch của Nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh.
  • Phần chuẩn bị học cụ: Mỗi nơi có những hoàn cảnh khác nhau, nên khi soạn bài GLV chuẩn bị học cụ thích hợp cho mỗi hoạt động trong tiết học. Vì thế, không ghi trong giáo án này.
  • Kiểm tra bài cũ: Trong mỗi tiết giáo lý, GLV kiểm tra bài cũ trước khi giới thiệu bài mới. Phần này chỉ ghi trong “Bài Mở đầu”, còn những bài sau xin theo trình tự như thế.
  • Nội dung giáo lý: Để giúp GLV nắm bắt nội dung chính của điều mình diễn giải, chúng tôi ghi lại câu “hỏi – thưa” giáo lý trong Sách Thủ Bản dành cho Học viên của mỗi Khối.
  • Riêng Năm III của Thêm Sức, cần tối thiểu thời gian 1-2 tháng để ôn tập và chuẩn bị chu đáo cho việc lãnh nhận Bí tích Thêm Sức.
 
Xin chân thành cám ơn các tác giả mà chúng tôi trích dẫn khi soạn giáo án giáo lý.
Xin Chúa chúc lành, thánh hóa và hướng dẫn chúng ta trong việc phục vụ Lời Chúa.
 
Nhóm Huấn giáo
Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp
 
……………………………….

Bài mở đầu: EM LỚN KHÔN
 
Lời Chúa : “Còn Chúa Giêsu, càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và ơn phúc trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người” (Lc 2,52).
Ý chính   : 1. Giá trị của thời gian (Lc 2,41-43.45-47.51-52)
                   2. Để lớn khôn trong đức tin (2 Pr 3,18)
Tâm tình  : Cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho em sự sống và khát vọng lớn khôn thực sự.
Chuẩn bị: Sách Thánh Kinh - Tranh Đức Mẹ ẵm bế Chúa Giêsu Hài Đồng - Tranh Chúa Giêsu lên 12 tuổi, đứng giữa các thầy tiến sĩ.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa:
GLV chủ nhiệm hướng dẫn các em đứng nghiêm trang, khoanh tay, mắt nhìn lên Tượngchịu nạn hoặc ảnh Chúa (nếu có), lên bàn Lời Chúa, làm dấu Thánh giá và mời gọi các em cầu nguyện:
Các em thân mến, hôm nay các em bắt đầu chương trình Giáo lý Hồng ân cấp II: “Lớn Lên Trong Chúa Thánh Thần”. Chúng ta học để lớn lên, vì Thánh Thần là Đấng ban quyền năng, thúc đẩy, soi sáng, làm phong phú và là sức mạnh của Thiên Chúa để nâng đỡ, thánh hóa toàn thế giới.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban Thánh Thần của Chúa cho chúng con để Người hướng dẫn và làm cho chúng con được lớn lên trong ân sủng Chúa.
3. Dẫn vào bài mới:
Các em thân mến, những năm ở cấp I, các em đã nhìn ngắm Chúa Giêsu, đã xem cách Người sống, nghe Lời Người dạy, và hiểu Chúa Thánh Thần đã thánh hóa chúng ta thế nào.  Các em cũng đã học, đã hiểu biết, đã lãnh nhận bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể. Nay các em đã lớn khôn hơn, vì thế chúng ta sẽ tiếp tục học để khám phá thêm về tình thương Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đặc biệt, chúng ta sẽ học hỏi nhiều hơn về Chúa Thánh Thần và đời sống trong Chúa Thánh Thần, để khi kết thúc cấp II này, CÁC EM SẼ LÃNH NHẬN BÍ TÍCH THÊM SỨC, sẽ trở thành những Kitô hữu trưởng thành, làm chứng cho Chúa Kitô trong cuộc sống và xây dựng Hội thánh.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập: (GLV chỉ tranh Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu).
Lúc mới sinh, Hài Nhi Giêsu được Mẹ bồng ẵm và nuôi nấng như mẹ em lo cho em bé của em vậy. Theo thời gian, bé Giê su lớn dần (chỉ sang tranh Chúa Giêsu ở Đền Thờ Giêrusalem)... Các em thấy đó, khi lên 12 tuổi, Giê su có thể theo cha mẹ lên đền thờ Giêrusalem. Mời các em cùng đọc Lc 2,41-43.45-47.51-52 và nghe Thánh Luca thuật lại biến cố này
B. Công bố Lời Chúa: Luca Lc 2, 41-47.51-52   
Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu.
Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.
Sau khi nghe Lời Chúa, thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Các em thân mến!
Thời gian đã làm Chúa Giêsu lớn khôn về thể xác, tinh thần và đức tin. Thời gian cũng đang tác động nơi mỗi người chúng ta làm chúng ta mỗi ngày thêm cao lớn. Xin cho mỗi chúng ta khi lớn hơn về thể xác thì cũng lớn khôn trong tinh thần để như Chúa Giê su, chúng ta cũng được Thiên Chúa và mọi người thương mến.

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
Lc 2, 41
 
Lc 2, 42
 
Lc 2, 51-52
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lc 2, 47
 
 
Mt 7,11
1. Giá trị của thời gian:
  • Hàng năm, Đức Giêsu theo cha mẹ lên Đền Thờ Giêrusalem để làm gì? Mừng lễ Vượt qua theo luật Do thái
  • Chúa Giêsu lên Đền Thờ Giêrusalem lần đầu tiên khi Ngài bao nhiêu tuổi? 12 tuổi
  • Thánh sử Luca ghi lại cuộc sống của Đức Giê su ở Nazaret thế nào? Ngài hằng vâng phục cha mẹ, ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến
  • Thời gian 12 năm đã làm Chúa Giêsu lớn khôn về thể xác, tinh thần và đức tin. Còn em, năm nay em bao nhiêu tuổi?
  • Thời gian cũng đang tác động nơi mỗi người chúng ta về nhiều mặt:
  • Về thân xác, em thấy mình và các bạn thế nào so với năm trước? thêm một tuổi, em lại cao hơn, mập hơn, khỏe hơn. Vì thế, cha mẹ phải sắm cho các em phải thay đổi quần áo, giầy dép mới rộng hơn, dài hơn trước.
  • Về trí tuệ, năm nay các em đã lên lớp cao hơn, trí tuệ phát triển hơn. Các em đã giải được những bài toán khó và đã làm được   bài văn hay. Các em đã hiểu biết nhiều hơn, biết giúp đỡ cha mẹ.  Ngoài việc học ở trường, các em còn biết đọc sách báo để học hỏi thêm, học những cái hay, cái tốt nơi bạn bè và đón nhận sự hướng dẫn của cha mẹ, để thu thập kiến thức, mở mang trí tuệ...
  • Về đức tin: Chúng ta nhìn xem Đức Giêsu đang đứng với ai trong bức tranh này? Các bậc thầy của Do thái. Những bậc thông thái ấy có thái độ nào khi nghe Chúa Giê su nói?  Họ ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu
  • Như Chúa Giêsu, em cũng đang lớn lên về thể xác và trong đời sống đức tin. Em chịu trách nhiệm về việc sử dụng thời gian, về tương lai và cuộc sống của mình. Nếu em lười biếng, không chịu học hành, em sẽ hối hận vì “cây tốt thì sinh quả tốt”, thời gian đi qua thì không ai lấy lại được.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tuổi đời đã làm cho ta nên lớn khôn về thể xác và tinh thần. (01)
 
 
 
 
 
 
2 Pr 3,18
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ga 10, 16
Mt 28, 19
 
2 Pr 3, 18
2. Để lớn khôn trong đức tin.
  • Lớp học của chúng ta năm nay có tên gọi là gì? Lớn lên trong Chúa Thánh Thần
  • Hạt giống đức tin được gieo vào tâm hồn khi ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, sẽ nảy mầm, phát triển thành đời sống đức tin. Chúng ta được Chúa Giê su mời gọi phải lớn lên bằng ân sủng của Thánh Thần, bởi Thánh Thần giúp ta học, hiểu và sống Tin mừng để đời sống đức tin lớn mạnh cùng với tuổi đời.
  • Muốn lớn mạnh về đức tin, chúng ta phải làm gì?
  • Siêng năng học hỏi giáo lý và Lời Chúa để biết Thiên Chúa là Cha yêu thương và mọi người là anh chị em. Nhờ đó luôn sống đẹp lòng Chúa và yêu thương trong tình bác ái chan hòa với mọi người
  • Gắn bó hơn với Chúa, gặp gỡ Chúa Kitô trong mọi biến cố cuộc sống, biết sống tâm tình của Chúa Kitô, biết khám phá ra những thao thức của Chúa Kitô và tích cực góp phần làm cho những thao thức ấy trở thành hiện thực, biết cầu nguyện và kết hợp với Chúa nhiều hơn
  • Chúa Kitô thao thức điều gì?
  • Sự hiệp nhất trong Giáo Hội (một đoàn chiên và một mục tử)
  • Làm cho muôn dân trở thành môn đệ,
  • Thánh Phê rô khuyên các tín hữu đầu tiên thế nào? anh em hãy lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Đức Giê-su Ki-tô
 
 
 
 
Để ngày càng lớn lên trong Đức tin, ta cần không ngừng đào sâu Giáo lý, siêng năng cầu nguyện và góp phần truyền bá đức tin. (02)
  • Cũng vậy, năm giáo lý trong khóa này có mục đích giúp các em khi lớn lên về thân xác, trí tuệ, nhất là về đức tin, chuẩn bị lãnh nhận Bí tích thêm sức. Các em sẽ được Chúa Thánh Thần liên kết mật thiết với Chúa Kitô, với Hội thánh, được trở nên chứng nhân của Chúa Kitô, góp phần xây dựng Hội thánh và xã hội trần thế …
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa là Cha chúng con, Cha đã ban cho chúng con sự sống và làm cho chúng con lớn khôn. Xin ban Chúa Thánh Thần mở trí lòng chúng con, để chúng con hiểu biết và yêu mến Cha nhiều hơn, nhờ đó chúng con càng thêm tuổi càng thêm lớn khôn về đức tin và tràn đầy ân sủng của Cha. Amen.
III. Em nhớ Lời Chúa.
  • “Còn Chúa Giê-su, càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan và ơn phúc trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người” (Lc 2, 52).
  • Số 01 – 02.
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Hát bài “ Vì Chúa Kitô chúng ta về đây” trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Câu chuyện dẫn đến thực hành:
Lúc còn đi học, Newton là một cậu bé gầy gò. Các bạn trong lớp thường chế nhạo cậu về vóc dáng nhỏ bé ấy. Một ngày kia, một người bạn vốn to con đã bắt nạt Newton, chọc ghẹo cậu bằng những câu nói cay cú và đã dúi ngã cậu. Newton cố gắng chống cự lại, nhưng với vóc dáng nhỏ bé, cậu không thể làm được gì anh chàng to lớn kia. Cậu chỉ còn một cách duy nhất là học thật giỏi, học để chứng tỏ bản lãnh của mình. Từ đó cậu luôn chiếm vị trí danh dự đầu lớp. Cậu được thầy cô và các bạn bè quí mến, và dĩ nhiên, những trò đùa tai ác không còn nữa mà thay vào đó là sự kính phục của mọi người. Sau này, khi nói về kỷ niệm thời thơ ấu này, nhà bác học luôn quả quyết: chính cáic dúi ngã đó là lực đẩy khiến tôi học thật giỏi.
Các em thân mến, Newton đã biết khắc phục khó khăn để trở nên một nhà bác học lừng danh. Trong đời sống tôn giáo, để được lớn lên, ta phải siêng năng lãnh nhận Bí tích Hòa giải, Bí tích Thánh Thể, cần chăm chỉ học Lời Chúa và chuẩn bị tốt lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Vậy từ nay, các em quyết tâm chuyên chăm học Lời Chúa để lớn khôn về đức tin.
3. Bài làm ở nhà: Ghi lại, đóng khung và tô màu trang trí câu Lời Chúa Lc 2,52
V. KẾT THÚC.
Qua giờ học giáo lý đầu tiên hôm nay, chúng ta đã ngắm nhìn Chúa Giêsu và thấy Chúa đã lớn lên về thân xác, trí tuệ và đức tin. Chính vì yêu thương, Chúa đã ban cho chúng ta nên giống Chúa: thân xác lớn thêm, trí tuệ phát triển và nhất là hồng ân đức tin. Vậy bây giờ chúng ta đứng lên để tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa.
- Kinh Sáng danh...
- Chúc các em ra về bằng an và luôn noi gương Chúa Giêsu để lớn lên trong ân sủng!
 
…………………………………….
 
PHẦN I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
 
BÀI 1: THIÊN CHÚA SÁNG TẠO VÀ QUAN PHÒNG
 
Lời Chúa: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quí giá hơn chúng sao ?” (Mt 6,26).
Ý chính   : 1. Ý nghĩa công cuộc sáng tạo (Rm 1,19-20).
                   2. Thiên Chúa quan phòng (Mt 6,26-33).
                   3. Chúa Thánh Thần trong công cuộc sáng tạo (St 1,2).
Tâm tình  : Thờ lạy và cảm tạ Thiên Chúa, Đấng đã tác tạo và an bài mọi sự.
Chuẩn bị: Sách Kinh thánh, tranh vẽ cảnh vật thiên nhiên, một số thực vật, động vật, hoa trái...
 
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp: Ổn định chỗ ngồi, nhắc nhở những điều cần lưu ý.
2. Thánh hóa:
Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp để biểu lộ cho chúng con thấy sự thiện hảo và tình yêu quan phòng của Chúa đối với chúng con. Xin cho chúng con nhận ra vẻ đẹp của vũ trụ để luôn biết ca ngợi và cảm tạ tình yêu Chúa.
3. Giới thiệu tổng quát phần I: Tuyên xưng đức tin.
Chương trình giáo lý của chúng ta qui chiếu cuốn Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG) đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 11.10.1992. Trong những năm vừa qua, các em đã học cuốn Đến Bàn Tiệc Thánh (ĐBTT) triển khai một phần nội dung cuốn GLHTCG này. Nay chúng ta tiếp tục học hỏi giáo lý, tuyên xưng và sống đức tin để ngày một lớn khôn trong Chúa. Chúng ta bắt đầu phần Tuyên xưng đức tin với bài Thiên Chúa sáng tạo và quan phòng.
 
II. EM NGHE LỜI CHÚA
  1. Dẫn nhập:
Các nhà khảo cổ tìm thấy những hóa thạch bộ xương của khủng long và họ biết loài vật khổng lồ này đã sống cách chúng ta mấy trăm triệu năm trước. Các nhà khoa học nghiên cứu những sợi vải và dấu máu in trên vải khăn liệm thành Turino tại thánh đường thánh Chambéry, Rôma và quả quyết báu vật này có từ thời Chúa Giêsu. Như vậy, bất cứ đồ vật nào cũng đều ghi dấu thời đại của mình. Vậy trời đất và vũ trụ bao la này có nói gì với ta về nguồn gốc, về Đấng tác tạo nên nó không? Chúng ta hãy đọc Rm 1,19-20 - mời đứng
  1. Công bố Lời Chúa:
Lời Chúa trong thư thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma  1,19-20 – thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Lạy Chúa, vũ trụ tươi đẹp của chúng con là một bằng chứng sống động và là lời tuyên xưng về quyền năng Chúa. Xin hãy ban cho chúng con đôi mắt đức tin để chúng con luôn nhìn thấy Chúa hiện diện và hằng yêu thương săn sóc chứng con. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
 
St 1, 3-31
 
 
 
 
 
St 1, 1-30
 
Rm 1, 19-20
 
 
1. Ý nghĩa công cuộc sáng tạo
  • Ai đã tạo dựng trời đất muôn vật? Thiên Chúa
  • Trong khi người thợ mộc muốn đóng bộ bàn ghế thì phải có vật liệu là gỗ và đinh, nhà máy muốn làm ra giấy phải có tre, gỗ và các hóa chất … thì Thiên Chúa tạo dựng trời đất thế nào? Chúa làm ra vũ trụ từ hư vô, nhờ Lời quyền năng:“Hãy có, liền có”.
  • Nhà máy làm ra những sản phẩm như giấy, vải, tivi, tủ lạnh… để làm gì? Để bán cho mọi người và kiếm lợi nhuận. Còn Thiên Chúa sáng tạo muôn vật vì yêu thương và muốn con người được hạnh phúc
  • Thiên Chúa ban cho em những gì qua công trình sáng tạo? Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, biển khơi, sông núi, thắng cảnh đẹp, hoa thơm trái ngọt …
  • Theo Thánh Phaolô, trí khôn con người có thể nhận biết Thiên Chúa bằng cách nào? Nhìn vào trời đất, vũ trụ chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và điều khiển.
  • Khi biết Thiên Chúa sáng tạo trời đất muôn vật từ hư không nhờ Lời quyền năng và Ngài sáng tạo trời đất muôn vật vì yêu thương loài người chúng ta, chúng ta nhận ra rằng: Thiên Chúa là Đấng Quyền Năng và yêu thương
 
Trong Kinh Tin Kính, ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời và đất, muôn vật hữu hình và vô hình. (03)
 
 
Thiên Chúa sáng tạo trời đất muôn vật để biểu lộ và thông ban vinh quang của Người. (04)
 
 
Mt 6,26-33
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mt 6,26
Mt 6,30-32
 
2. Thiên Chúa quan phòng
a. Thiên Chúa chăm sóc muôn loài
  • Em thấy chim trời có cuốc đất gieo trồng lúa bắp để ăn không? Không
  • Những bông hoa đồng nội có biết tự chăm bón, tô điểm, thêu dệt không mà vẫn khoe sắc với muôn loài?
  • Một cây cảnh, một con vật khi mới mọc lên, mới sinh ra thì nhỏ bé, yếu ớt... nhưng khi lớn dần, chúng sẽ khỏe hơn, khôn hơn trước khi tàn lụi và chết. Cái xe đạp, cái áo, cái cặp của các em lúc mới mua về thì đẹp, nhưng càng để lâu ngày, càng xấu rồi hư đi… Như vậy, các tạo vật tốt lành nhưng chúng chưa hoàn hảo khi được tạo dựng, chúng đang “trên đường đi tới” một sự toàn hảo tốt hơn như Thiên Chúa muốn.
  • Vũ trụ bao la với muôn ngàn tinh tú, mỗi tinh tú vận hành với vận tốc lớn kinh khủng nhưng không va chạm nhau.  Thiếu mặt trời, trái đất trở nên băng giá. Như vậy, khi tạo dựng muôn loài, Thiên Chúa luôn chăm sóc, sắp xếp, an bài một vị trí, một vận hành, một diễn tiến tốt đẹp cho tạo vật đó và cho tất cả muôn loài với nhau. Sự chăm sóc, an bài tốt đẹp, kỳ diệu này, ta gọi là sự quan phòng của Thiên Chúa.
b. Thiên Chúa chăm sóc loài người :
  • Thiên Chúa tạo dựng con người trước hay sau khi tạo dựng  trời đất, cỏ cây và muông thú? Ngài tạo dựng con người sau cùng và đặt họ vào vườn Eden
  • Điều đó cho thấy: Thiên Chúa quan phòng muôn loài vì yêu thương loài người, Thiên Chúa tạo dựng, sắp xếp, chăm sóc muôn loài là để loài người có điều kiện tốt đẹp nhất đạt được hạnh phúc.
  • Chúa Giêsu nói về sự chăm sóc Thiên Chúa dành cho loài người như thế nào?
  • “Anh em lại chẳng quí giá hơn chim trời sao”
  • “Nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em... Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó”
  • Vậy, tất cả những cách thức tạo dựng, sự sắp xếp, sự chăm sóc của Thiên Chúa dành cho tạo vật và cho loài người được gọi là sự quan phòng.
 
 
 
 
 
Thiên Chúa vẫn tiếp tục chăm sóc và hướng dẫn mọi loài thụ tạo, để vũ trụ tiến dần đến mức hoàn hảo như Chúa muốn. Đó là sự quan phòng. (05)
 
 
 
St 1,2
 
 
St 2,7
3. Chúa Thánh Thần trong công cuộc sáng tạo.
  • Sách Sáng thế nói về Chúa Thánh Thần trong công cuộc tạo dựng như sau: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”.
  • Sau khi tạo dựng con người từ bụi đất, Thiên Chúa đã làm gì? Thiên Chúa “thổi hơi” ban sự sống cho con người. “Thổi hơi” theo nghĩa Kinh Thánh, là trao ban sự sống, sự sống của chính Thiên Chúa nghĩa là Chúa Thánh Thần.
  • Chúa Thánh Thần đã hiện diện ngay từ đầu của vũ trụ. Người là Thần Khí ban sự sống là Thần Linh Thiên Chúa và là nguồn mạch sự sống. Vậy, muốn có sự sống đích thực, chúng ta phải biết rộng mở tâm hồn đón nhận Chúa Thánh Thần, để Người ban sự sống dồi dào, thánh thiện cho mọi ngày sống của chúng ta.
 
Đối với Đấng Sáng Tạo, ta phải luôn sống tâm tình con thảo, yêu mến, tôn thờ, phó thác vào Người và cùng với mọi người bảo vệ, phát triển thế giới ngày càng tốt đẹp hơn. (06)
 
Các em thân mến! Qua bài học hôm nay, các em đã nhận biết: Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và con người từ hư vô do Lời quyền năng. Thiên Chúa sáng tạo trời đất muôn vật vì yêu thương loài người chúng ta. Thiên Chúa sáng tạo và quan phòng muôn vật và con người, cho tất cả được phát triển tốt đẹp, được hạnh phúc. Giờ đây, chúng ta cùng dâng lời cảm tạ, ngợi khen Thiên Chúa. (mời đứng)
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã sáng tạo mọi vật thật tốt đẹp. Chúa lại còn quan phòng tài tình để mọi vật đi đúng hướng Chúa muốn. Xin cho con luôn sống tâm tình con thảo, yêu mến, tôn thờ, phó thác vào Chúa.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho ; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quí giá hơn chúng sao ? (Mt 6,26).
  • Số 03-  06
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Câu chuyện dẫn đến thực hành:
Một hôm có chàng thanh niên vào rừng đốn củi. Đến trưa nhọc mệt, anh nằm nghỉ dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn lên, anh thấy cành lá xum xuê, nhưng trái đa thì lại nhỏ xíu. Anh nghĩ: sao cây to lớn như thế này mà trái lại nhỏ nhỉ? Nếu ta là ông trời, ta cho nó mang trái lớn như trái bí và lá to như lá chuối, thế mới cân xứng chứ. Dây bí nhỏ thó mà phải mang trái lớn; cây chuối yếu mềm mà phải mang lá to như tấm phản... Quả là Ông Trời chẳng khôn ngoan chút nào, hay là không có Ông Trời, mọi vật tự nhiên mà có chăng? Đang miên man nghĩ tưởng như vậy, anh thiếp ngủ lúc nào không hay.
Một cơn gió lớn thổi mạnh làm rớt xuống sống mũi anh một trái đa. Anh giật mình thức giấc, vừa xuýt xoa vừa nghĩ: “May quá, nếu mà trái đa như trái bí thì bữa nay ta bể mặt hoặc tận số rồi. Thì ra Ông Trời khôn thật, Người xếp đặt cả rồi đấy chứ !?
Các em thân mến, Thiên Chúa là Cha nhân từ, đã xếp đặt mọi sự tốt đẹp hài hòa, nên chúng ta phải tin tưởng phó thác hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa, không cậy sức mình, không ỷ lại, không lười biếng, không trốn tránh trách nhiệm, nhưng cùng với mọi người tìm kiếm Nước Chúa trong khi xây dựng cuộc sống này cho tốt đẹp hơn.
Vậy điều thực hành trong tuần này là: Em tin tưởng, phó thác cuộc đời cho Chúa, vì Chúa là Cha của em.
3. Bài làm về nhà:
Em viết tên một số loài hoa, loài vật mà em biết hoặc vẽ 1 bông hoa, 1 con vật mà em thích
V. KẾT THÚC.
Các em thân mến, được Thiên Chúa tạo dựng, yêu thương, chăm nom, săn sóc, chúng ta hãy phó dâng cho Chúa mọi lo toan của từng ngày sống. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết tin tưởng và cậy trông vào sự quan phòng của Chúa.
Chào các em. Chúc các em về bình an và luôn tin tưởng vào tinh thương quan phòng của Chúa.
 
………………………………………
 
BÀI 2: THIÊN CHÚA TẠO DỰNG CON NGƯỜI
 
Lời Chúa:  “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Chúa” (St 1,27).
Ý chính   : 1. Thiên Chúa tạo dựng con người (St 1,26-28 ; 2,15-16).
                   2. Đặc ân của loài người trong thời sáng tạo (St 2,15.18-23).
                   3. Thái độ của loài người (Tv 8,4-9).
Tâm tình  : Cảm tạ yêu mến Thiên Chúa đã tạo dựng nên ta giống hình ảnh Chúa.
Chuẩn bị: - Tranh 1 lực sĩ, một ca sĩ hay một người mẫu.
                   - Ảnh một vị thánh.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp: Ổn định chỗ ngồi.
2. Thánh hóa: Thế giới mà các em đang sống có biết bao điều kỳ diệu, mà điều kỳ diệu nhất chính là con người. Con người được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, được Thiên Chúa bao bọc bằng ân sủng và tình yêu của Người. Các em hãy cúi đầu cảm tạ Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta sống Ơn gọi làm người và làm con Chúa.
3. Dẫn vào bài mới: Thiên Chúa sáng tạo trời đất muôn vật tốt đẹp để làm khung cảnh và nhà cho con người. Con người mới là chóp đỉnh của công cuộc sáng tạo. Và đây là nội dung của bài học hôm nay.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Thánh Augustinô kể rằng: Ngài đã vất vả, long đong đi tìm kiếm xem ai dựng nên Ngài? Gặp đất, Ngài hỏi: Hỡi đất ! Đất có phải là Thiên Chúa của tôi không?
Mặt đất xao động trả lời: - Không. Tôi không phải là Thiên Chúa của bạn.
Tới bên vực thẳm, Ngài hỏi: - Vực thẳm bí hiểm ơi ! Phải ngươi là Thiên Chúa tôi không ?
Từ dưới đáy vực có tiếng vang vọng đáp: - Không, không phải
Trầm mình dưới nước biển, Ngài lại hỏi:Biển cả mênh mông ơi! Phải ngươi là TC của tôi
không?
Mặt nước chao qua, đảo lại rồi chúm chím trả lời: - Không phải thế!
Ngài còn hỏi nhiều loài, nhiều vật khác nữa. Nhưng đều chỉ nhận được tiếng trả lời “KHÔNG”. Cuối cùng thất vọng quá, Ngài kêu lên: - Ôi ! Nếu các bạn không phải là Thiên Chúa của tôi, thì xin chỉ giùm xem: Ai là Đấng dựng nên tôi?
Muôn loài, muôn vật xôn xao rồi đồng thanh cất tiếng: - Chính Thiên Chúa cao cả đã tạo dựng chúng tôi. Người dựng nên cả loài người các bạn nữa đấy! (Trích trong Góp nhặt 2 tr.339).
Đúng là Thiên Chúa cao cả đã tạo dựng nên muôn loài và dựng nên cả loài người. Nhưng Thiên Chúa tạo dựng nên con người như thế nào? Mời các em lắng nghe sách Sáng thế kể lại - Mời đứng.
B. Công bố Lời Chúa:
Lời Chúa trong sách Sáng thế (St 1,26-28 ; 2,15-16). -  thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con giống hình ảnh Chúa, xin giúp chúng con biết giữ mãi hình ảnh Chúa trong đời sống chúng con để chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
St 1,26-28
 
 
 
 
 
 
1. Thiên Chúa tạo dựng con người
  • Sách thánh đã kể lại công cuộc tạo dựng con người thế nào?
  • Thiên Chúa có một ý định: “Ta hãy làm ra người”.
  • Thiên Chúa chọn một kiểu mẫu cho con người được giống Chúa: “theo hình ảnh Ta”
  • Thiên Chúa lấy bụi đất, nặn thành hình người.
  • Thiên Chúa “thổi hơi vào mũi”để thông ban cho con người sự sống
  • Qua cách thức diễn tả như thế, Kinh thánh muốn cho chúng ta thấy Thiên Chúa yêu thương, cho con người được tham dự vào chính sự sống sung mãn của Thiên Chúa, có khả năng hiệp thông, tức là nhận biết và yêu mến Thiên Chúa.
 
 
Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Chúa, có khả năng nhận biết và yêu mến Người. (07)
 
 
 
 
 
 
 
 
St2,15.18-23
 
 
St 2,8
 
 
 
St 2,17
 
St 3, 16-19
 
2. Đặc ân của loài người trong thời sáng tạo.
a. Sống trong ơn nghĩa với Thiên Chúa.
  • Trong các loài Thiên Chúa tạo dựng, loài nào cao trọng nhất? Loài người, Chúa cho họ làm bá chủ vạn vật
  • Lòng yêu thương của Thiên Chúa dành cho loài người được biểu lộ thế nào?
  • Biểu lộ qua việc tạo dựng hoa thơm trái ngọt, cá biển chim trời và vũ trụ trước khi tạo dựng con người để họ có thức ăn, có nơi sống
  • Qua việc tạo dựng Evà từ xương sườn Adam để ông bà liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng một loài, một bản tính và một địa vị như nhau để chia sẻ cuộc sống và mang lại hạnh phúc cho nhau.
  • Qua việc cho con người tham dự vào tình thân với chính Thiên Chúa qua hình ảnh “khi gió hiu hiu thổi chiều hôm, Thiên Chúa tản bộ trong vườn, đến thăm hỏi, hàn huyên với ông bà”. Quả thật, con người đầu tiên đã được sống trong ơn nghĩa với Thiên Chúa.
b. Không phải đau khổ và không phải chết.
  • Được đặt trong tình nghĩa với Thiên Chúa Đấng sáng tạo của mình, sống hòa điệu với bản thân và với vạn vật, cuộc sống của Adam – Evà thế nào? Ông bà sống hạnh phúc và được tham dự vào sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa.
  • Khi phạm tội không giữ lời Thiên Chúa, ông bà phải nhận án phạt nào? Phải đau khổ và phải chết
 
 
 
 
 
 
Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho tổ tông loài người được sống trong ơn nghĩa với Thiên Chúa, không phải đau khổ và không phải chết. Nhưng hạnh phúc ấy đã mất khi Tổ tông phạm tội. (08)
 
 
 
 
Tv 8,4-9
 
 
 Rm 6,13
3. Thái độ sống của con người.
  • Khi chiêm ngắm những đặc ân mà Thiên Chúa ban cho con người, tác giả Thánh vịnh 8 dâng lời ca tụng Thiên Chúa với tâm tình cảm ơn và yêu mến
  • Để tỏ lòng biết ơn và cảm tạ Chúa đã dựng nên ta, em phải sống thế nào? Nỗ lực làm cho cuộc sống của ta và mọi người càng thêm tươi đẹp và đầy yêu thương như lời Thánh Phaolô đã dạy: “Anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa”.
Được Thiên Chúa ban cho sự sống và phẩm giá cao quí, ta phải biết cám ơn và yêu mến Thiên Chúa, đồng thời cố gắng làm cho cuộc sống của ta và mọi người ngày càng thêm tươi đẹp và đầy yêu thương. (09)
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con, Chúa lại còn tiếp tục chăm sóc, giữ gìn và ban cho con nhiều ân huệ lạ lùng. Con xin cảm tạ Chúa. Xin Chúa Thánh Thần canh tân tâm hồn con, để con trở nên hoàn hảo như lòng Chúa mong muốn.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình” (St 1,27).
  •   Số 07- 09.                                                                                 
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
  1. Sinh hoạt: Băng reo CÁM ƠN TRỜI trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
Cám ơn Trời!   -           Cho con 2 mắt (đưa tay lên mắt)
Cám ơn Trời!    -           Cho con đôi bàn tay (xòe 2 tay ra)
Cám ơn Trời!    -           Cho con đôi bàn chân (giậm chân 2 cái)
Cám ơn Trời!    -           Cho con sinh làm người (2 tay đặt trên ngực)
2. Thực hành:
  • Em quyết tâm học tập để phát triển khả năng, để nhận biết và yêu mến Chúa.
  • Em mang sách Tin mừng theo khi đi học Giáo lý và khi dâng lễ
3. Bài làm ở nhà: Em viết lại những đặc ân Thiên Chúa ban cho con người thuở sáng tạo.
V. KẾT THÚC.
- Tâm tình cảm tạ, yêu mến Thiên Chúa.
- Yêu thương kính trọng các bạn.
- Kinh Sáng danh...
………………………………
 
BÀI 3: SA NGÃ
 
Lời Chúa: “Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quí vì làm cho mình được tinh khôn, bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn” (St 3,6).
Ý chính   : 1. Thiên thần và loài người sa ngã (St 3,1-7).
                   2. Hậu quả tội tổ tông (St 3,16-24a).
                   3. Tội tổ tông truyền (Rm 5,15-16.19).
                   4. Lời hứa cứu chuộc (Rm 5,15-17).
Tâm tình  : Sợ tội và quyết vâng lời Chúa.
Chuẩn bị:  - Tranh nguyên tổ sa ngã
                   - Các hình ảnh chiến tranh, nếu có.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp: n định chỗ ngồi, cùng hát bài “Chúa dựng nên em”.
2. Thánh hóa: Mỗi người chúng ta đều muốn làm mọi việc theo ý riêng mình. Những việc ấy có khi là xấu nhưng chúng ta vẫn bị cám dỗ. Cám dỗ không phải là tội, chúng ta chỉ phạm tội khi sa ngã chiều theo cơn cám dỗ và từ chối Chúa. Chúng ta hãy xin Thánh Thần Chúa giúp chúng ta nhận biết điều hay lẽ phải, và biết lựa chọn điều tốt hơn là điều xấu.
3. Dẫn vào bài mới: Hạnh phúc Thiên Chúa ban cho tổ tông từ thuở ban đầu, không còn nữa, vì ông bà đã nghe theo lời của ma quỉ mà chống lại Thiên Chúa ; Thiên thần Luxiphe cũng kiêu căng chống lại Chúa. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu biến cố Thiên thần và loài người sa ngã.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Bức họa “Tiệc Ly” trên tường phòng ăn của một tu viện ở Milan (Italia) do họa sĩ Léonard de Vinci vẽ là một kiệt tác nghệ thuật thế giới. Khi thực hiện bức họa, ông đã đi khắp đó đây để tìm người mẫu thích hợp cho từng nhân vật. Một ngày nọ, ông đã tìm được một thanh niên có khuôn mặt diễn tả được nét mặt cao sang oai nghi, thánh thiện và hiền từ của Chúa Giêsu như ý ông muốn. Vài năm sau, thanh niên ấy sa vào con đường trụy lạc tội lỗi, khuôn  mặt anh lúc này trông xảo trá, gian manh, xấu xa. Ông họa sĩ nhờ anh làm người mẫu cho Giuđa. Khi ông vẽ xong, chàng thanh niên ôm mặt khóc và nói với họa sĩ: “Tôi là người cách đây mấy năm đã làm người mẫu cho ông vẽ Chúa Giêsu”
Tội lỗi làm khuôn mặt anh thanh niên thay đổi thế đấy. Vậy tổ tiên chúng ta đã sa ngã thế nào? Mời chúng ta nghe câu chuyện trong sách Sáng thế.
B. Công bố Lời Chúa:
Bài trích sách Sáng thế ký  (3, 1-7)
“Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng; mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” Người đàn bà nói với rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết”. Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quí vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình, ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân”. (St 3,1-7)
Sau khi nghe Lời Chúa, thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Được Thiên Chúa dựng nên trong sự công chính, nhưng con người vì nghe theo thần dữ nên đã lạm dụng tự do của mình mà nổi dậy chống lại Thiên Chúa. Xin Chúa Thánh Thần mở mang lòng trí chúng con để chúng con luôn lắng nghe tiếng nói lương tâm ngay thẳng để biết đâu là điều lành Chúa muốn con làm và đâu là việc dữ con phải tránh xa. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
St 1,26-28 ; 2,15-16
 
St 3,1-6.9-13
 
Kh 12, 7-9
 
 
1 Ga 3,8
  1. Thiên thần và loài người sa ngã
  •   Trong bài trước chúng ta đã học Thiên Chúa tạo dựng con người thế nào? Được dựng nên theo hình ảnh Chúa, có nam có nữ, làm chủ vũ trụ.
  •   Con người có luôn sống trong ân nghĩa Chúa không? Không, con người nghe theo thần dữ nên đã lạm dụng tự do của mình mà nổi dậy chống lại Thiên Chúa (Hc.MV 13).
  •   Con người phải là tạo vật đầu tiên chống lại Thiên Chúa có không? Mời các em mở Kh 12, 7-9 … Không, ma quỉ mới là tạo vật đầu tiên chống lại Thiên Chúa. Sa tan cùng đồng bọn là những thiên thần được Thiên Chúa dựng nên tốt lành nhưng đã trở nên xấu xa vì đã chống lại Thiên Chúa. Con người phạm tội vì đã nghe theo lời dụ dỗ của ma quỉ “vì ma quỉ phạm tội từ lúc khởi đầu”
Các thiên thần và loài người không sống mãi trong tình nghĩa với Thiên Chúa vì một số thiên thần đã từ chối tình thương của Thiên Chúa và đã quyến rũ tổ tông loài người phạm tội chống lại Thiên Chúa. (10)
 
 
 
 
 
St 3,7-8
St 3,16
St 3,18-19
 
 
Mt 19,17
St 4,8-9
St 3,23-24
Rm 7,19
 
St 2,17
 
 
Rm 5,12
2. Hậu quả tội tổ tông.
  • Tội đầu tiên của loài người là tội nào? Ađam - Evà, đã lạm dụng tự do để làm theo ý mình, không vâng phục Thiên Chúa
  • Tội nguyên tổ đã dẫn đến những hậu quả nào?
  • Ông bà nguyên tổ đã mất quân bình khi thấy mình trần truồng nên đã chạy trốn Thiên Chúa
  • Tương quan giữa hai người không còn bình đẳng, hòa hợp như trước
  • Phải vất vả cực nhọc mới chinh phục được thiên nhiên, con người phải trở về bụi đất
  • Hậu quả đầu tiên của tội tổ tông là mất tình nghĩa với Thiên Chúa. Tội tổ tông lôi kéo theo muôn vàn tội lỗi của mọi người qua các thời đại. Khi từ bỏ Thiên Chúa, Đấng duy nhất tốt lành, con người tự ý nhận lấy mọi hậu quả xấu xa của tội lỗi. Từ đó đau khổ xâm chiếm con người: bệnh tật, chết chóc, chém giết nhau (Cain giết Abel), bị Thiên Chúa đuổi khỏi vườn địa đàng, tâm hồn bất an: “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”…
  • Hậu quả thứ hai là: con người phải chết. Thiên Chúa đã nói cho ông bà Ađam - Evà biết: “Ngày nào ngươi ăn nó tất ngươi sẽ chết”. Nay ông bà đã ăn nên ông bà phải chết.
  • Từ tội đầu tiên này, tội lỗi tràn lan và thống trị khắp thế giới, cái chết đã đến với con người, nên làm người, ai cũng phải chết.
 
 
 
 
Tội tổ tông làm cho loài người mất ơn nghĩa với Thiên Chúa, mất sự hòa hợp với bản thân, với đồng loại và với mọi thụ tạo khác, nhất là vì tội mà con người phải đau khổ và phải chết. (11)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Rm5,15-19
 
Rm 7,14.21
3. Tội tổ tông truyền.
  • Một giám đốc bị phá sản, con cái ông có còn được sống giàu sang như trươc không? Cha mẹ ly dị, con cái có chịu thiệt thòi không? Cha mẹ bị SIDA, con cái có mang chứng bệnh di truyền từ cha mẹ không?
  • Con người đầu tiên là Ađam đã nhận được ơn thánh thiện và công chính cho toàn thể nhân loại. Vậy, một khi Ađam đã đánh mất đặc ân đó vì tội mình, thì tất cả con cháu thuộc dòng giống loài người đều sinh ra trong tình trạng tội lỗi của Ađam. Tình trạng mất ơn nghĩa với Chúa của mọi người sinh ra ở đời này gọi là TỘI TỔ TÔNG TRUYỀN.
  • Thánh Phaolô cho ta thấy tính cách lưu truyền tội nguyên tổ thế nào? Vì một người duy nhất đó không vâng lời Thiên Chúa mà muôn người thành tội nhân.”
  • Chính vì mất ơn thánh thiện và công chính ban đầu, nên bản tính con người đã bị tổn thương suy yếu và hướng về điều xấu. Thánh Phaolô nói về sự yếu đuối của con người thế nào? “Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay”
  • Như vậy, tất cả mọi người đều chịu ảnh hưởng của tội lỗi. Để đạt tới sự tốt lành như Thiên Chúa muốn, con người phải kiên trì chống lại tội lỗi. Tuy nhiên, trong cuộc chiến khốc liệt và kéo dài suốt đời này, chúng ta luôn có Chúa Kitô đồng hành và trợ giúp, luôn có Chúa Thánh Thần soi sáng và tăng cường sức mạnh.
Tội tổ tông đã truyền lại cho loài người một bản tính đã mất đi sự thánh thiện nguyên thủy. Ta gọi là tội tổ tông truyền. (12)

 
 
 
St 3,15
 
 
Ga 3, 16
 
 
Rm 5,20
4. Lời hứa cứu chuộc.
  • Thiên Chúa có bỏ mặc con người trong tình trạng tội lỗi thất vọng vì tội Ađam - Evà đã phạm tội không? Không, ngay khi tuyên án phạt ông bà, Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu chuộc cho ông bà và toàn thể nhân loại.
  • Tại sao Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Thế, để cứu chuộc loài người? Mời các em mở Ga 3, 16 …Vì Thiên Chúa là tình yêu, Ngài giàu lòng thương xót, chậm bất bình và hay tha thứ…
  • Thiên Chúa đã hứa và đã thực hiện lời hứa cứu rỗi. Chính Chúa Kitô đã phục hồi phẩm giá cho con người và  mang lại cho chúng ta những lợi ích lớn lao hơn cả những lợi ích mà tội lỗi đã làm mất đi. “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội”
Sau khi tổ tông phạm tội, Thiên Chúa chẳng bỏ mà lại hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu chuộc loài người (13).
 
D. Cầu nguyện:
Lạy Chúa, qua bài giáo lý hôm nay, con đã hiểu rõ hậu quả của tội lỗi: tội lỗi làm cho con xa Chúa, mất hạnh phúc thiên đàng. Xin Chúa Thánh Thần ban ơn Sức Mạnh giúp con can đảm dứt khoát với tội và tránh xa dịp tội. Amen.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
Lời Chúa:  “Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quí vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn” (St 3,6).
Bài học: Số 10 - 13                                                                        
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Nhờ vào tình yêu của Thiên Chúa mà chúng ta được cứu độ. Vậy, để khỏi rơi vào tình trạng đau buồn này, chúng ta phải quyết tâm làm theo ý Chúa qua lời dạy của bề trên.
3. Bài làm ở nhà: Viết và trang trí câu “xin Chúa cứu con”.
V. KẾT THÚC.
- Nhắc nhở các em học bài, sống giáo lý.
- Đọc kinh Sáng danh...
- Chào nhau, hẹn gặp tuần tới.
 
……………………………..
 
BÀI 4: CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI
 
Lời Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).
Ý chính   : 1. Ngôi Hai xuống thế làm người (Mt 1,18-25).
                   2. Ý nghĩa mầu nhiệm Nhập thể (Ga 3,16-17).
                   3. Bản tính của Chúa Giêsu Kitô (Pl 2,6-7).
Tâm tình  :  Vui mừng, tri ân, cảm tạ.
Chuẩn bị:  - Bản đồ Palestina.
                   - Tranh Giáng sinh
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp: Ổn định chỗ ngồi, thăm hỏi những em vắng lần trước.
2. Thánh hóa: Lạy Cha, chúng con ngợi khen, cảm tạ Cha, đã tặng ban Con Một yêu dấu của Cha là Đức Giêsu Kitô cho nhân loại. Xin Cha cho chúng con biết siêng năng học và sống giáo lý, để trở thành người gieo rắc niềm vui và sự an bình của Chúa Giêsu cho mọi người.
3. Dẫn vào bài mới: Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu chuộc cho con người sa ngã. Người đã chuẩn bị bằng việc gọi Abraham làm cha của một dân riêng - Đó là dân Do thái. Khi đến thời đã định, Thiên Chúa sai Con của Người là Chúa Giêsu Kitô xuống thế làm người. Hôm nay, chúng ta tìm hiểu về biến cố Ngôi Lời nhập thể.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Các em thân mến, chắc hẳn các em nhớ câu chuyện ông Dã Tràng được con rắn cho 1 viên ngọc có thể nghe được tiếng nói của loài vật. Nhờ viên ngọc ấy, Dã Tràng từ chối ăn bữa cơm ở nhà người bạn để cứu ngỗng bố khỏi bị giết thịt và nghe được tiếng nói của loài kiến để báo cho vua biết đất nước sắp bị xâm lăng. Vậy, có ai nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa chưa? Thiên Chúa đã nói gì với  nhân loại? Mời các em cùng đọc Mt 1,18-25 để nghe lại tiếng nói của Thiên Chúa
B. Công bố Lời Chúa: Mt 1, 18-25
Sau khi nghe Lời Chúa, thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là con một Chúa Cha nhưng đã xuống thế làm người như chúng con. Xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con có thể hiểu được màu nhiệm cao cả ấy và biết sống đẹp lòng Chúa hơn. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
Mt 1,18-25
 
 
 
 
Ga 1,14
Ga 3, 16
1. Ngôi Hai xuống thế làm người.
  • Trong đoạn Tin mừng vừa đọc, Đức Maria mang thai do đâu? Do quyền năng Chúa Thánh Thần
  • Thiên thần bảo ông Giuse đặt tên cho con trẻ là gì?  Giêsu
  • Giêsu nghĩa là gì? Đấng Cứu Thế. Chính người sẽ cứu dân khỏi tội lỗi của họ
  • Ngôi Lời nhập thể như thế nào? Đây là sáng kiến của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, bằng quyền năng cao cả, tác động nơi cung lòng Đức Maria.
  • (Giáo lý viên dùng tranh Chúa Giáng sinh và bản đồ Palestina để tiếp tục diễn tả) Ngôi Lời Thiên Chúa trở thành một hài nhi bé nhỏ được sinh ra tại làng Belem, sống ẩn dật tại Na-da-rét thuộc nước Do thái. Khi ba mươi tuổi, Ngài đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Người chịu chết trên thập giá thời Phongxiô Philatô. Nhưng Người đã sống lại và lên trời.
Chúa Cha đã dùng quyền năng Chúa Thánh Thần cho Ngôi Hai “nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người” (16)
Chúa Giê-su đã sinh ra tại làng Bê-lem, sống ẩn dật tại Na-da-rét, nước Do Thái. Khoảng ba mươi tuổi, Người đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cuối cùng Người chịu chết trên thập giá thời Phong-xi-ô Phi-la-tô, rồi sống lại và lên trời. (17)
 
 
 
Ga 3,16-17
 
Cv 4,12
 
 
 
 
 
 
 
Ga 3,16
1 Ga 4,9-10
 
 
 
 
Ga1,38;14,6
 Lc 4,34
Ga 15,12
 
 
 
 
 
 
 
 
Ga 14,10.23
 
 
2 Pr 1,3-4
2. Ý nghĩa mầu nhiệm Nhập thể.
  • Biến cố Giáng sinh đã xảy ra cách đây bao nhiêu năm? Hơn 2000 năm
  • Biến cố vĩ đại này có ý nghĩa gì?  Mời các em mở Ga 3,16-17… để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời, để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ.
  • Loài người đã phạm tội nên phải chết. Nay Giêsu, Con Thiên Chúa xuống thế, cứu chuộc loài người. Đây là cách thế tốt đẹp nhất xuất phát từ tinh thương Thiên Chúa nhằm  giải thoát loài người.
  • Vậy ý nghĩa thứ nhất của mầu nhiệm Nhập thể là: Con Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu ta khỏi chết
  • Ngày sinh nhật, ngày bổn mạng của cha mẹ hoặc của những người mình quí mến, các em thường làm gì? Chúc mừng, tặng quà…
  • Thiên Chúa yêu loài người chúng ta nên Người đã tặng cho loài người món quà thật quí đó gì vậy? là Người Con độc nhất của Người để đền tội cho chúng ta và nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống
  • Vậy ý nghĩa thứ hai của mầu nhiệm Nhập thể là: Con Thiên Chúa xuống thế làm người để tỏ cho ta biết tình yêu của Thiên Chúa
Người Việt Nam ta có câu: “Không thầy đố mày làm nên”. Chúng ta cần có thầy dạy toán, thầy dạy văn, dạy khoa học, dạy vi tính... và cũng cần người dạy chúng ta biết sống thánh là Chúa Giêsu. Tại sao vậy? Vì Chúa Giêsu là Thầy, là thánh, Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người là khuôn vàng thước ngọc của lề luật mới: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em”
  • Vậy ý nghĩa thứ ba mà chúng ta có thể khám phá thấy nơi mầu nhiệm Nhập thể là: Con Thiên Chúa xuống thế làm người để làm mẫu mực cho ta sống thánh thiện.
  • Em có tận mắt nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ không? Không
  • Em có tin Đức Giêsu là con một Chúa Cha và được Cha sai đến trần gian không?
  • Tại sao em có thể tin như thế? Em tin vì:
  • Thánh Gioan viết: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy. Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy
  • Thánh Phêrô đã viết: “Đức Kitô đã lấy thần lực của Người mà ban tặng chúng ta tất cả những gì giúp chúng ta được sống và sống đạo đức, khi Người cho chúng ta biết Đấng đã dùng vinh quang và sức mạnh của mình mà kêu gọi chúng ta. Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian”
  • Vậy, mầu nhiệm Nhập thể còn cho ta ý nghĩa thứ tư: để ta được kết hợp với Người mà trở nên con cái Thiên Chúa.
  • Tóm lại, Con Thiên Chúa xuống thế làm người để:
  • Cứu ta khỏi tội lỗi,
  • Tỏ cho ta biết tình yêu của Thiên Chúa,
  • Làm mẫu mực cho ta sống thánh thiện,
  • Ta kết hợp với Người mà trở nên con Thiên Chúa.
 
 
 
 
 
Con Thiên Chúa xuống thế làm người vì bốn lẽ này:
- Một là để cứu chuộc ta khỏi tội lỗi
 
 
 
 
 
 
 
 
- Hai là để tỏ cho ta biết tình yêu của Thiên Chúa
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
- Ba là để làm mẫu mực cho ta sống thánh thiện
 
 
 
 
 
- Bốn là để ta được kết hợp với Người mà trở nên con cái Thiên Chúa. (15)
 
Pl 2,6-7
 
 
 
 
Đn 2,31-45
3. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật.
  • Theo Pl 2,2-6, Đức Giêsu Kitô là ai? Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa
  • Ngài có nhất quyết duy trì địa vị Thiên Chúa không? Không, Ngài đã trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.”
  • Biến cố Nhập thể cho ta thấy: Chúa Giêsu là một nhân vật có thật, Ngài là một con người như bao người khác, đồng thời vẫn thực sự là Thiên Chúa như Chúa Cha. Nơi Chúa Giêsu, không có một phần là Thiên Chúa và một phần là người như pho tượng trong chiêm bao của Nabukodonosor. Chúa Giêsu có 2 bản tính: vừa có bản tính loài người, vừa có bản tính Thiên Chúa trong cùng một Ngôi vị duy nhất là Ngôi Hai Thiên Chúa.
Chúa Giê-su vừa là người thật như ta, vừa là Thiên Chúa thật như Chúa Cha. Người vừa có bản tính loài người, vừa có bản tính Thiên Chúa, trong cùng một Ngôi vị duy nhất là Ngôi Hai Thiên Chúa. (15)
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã làm người để cứu chuộc con khỏi tội lỗi và để tỏ cho con biết tình yêu của Thiên Chúa, cũng như để làm mẫu mực cho con sống thánh thiện, đặc biệt để làm cho con nên con cái Chúa. Xin ban Chúa Thánh Thần cho con, để Người giúp con sống như Chúa và biết thưa cùng Thiên Chúa: “Abba, Cha ơi”.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).
  • Số 14- 17
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Hát “Sức sống dồi dào” (trong tập hát và sinh hoạt giáo lý cấp II).
2. Thực hành: Em quyết tâm chăm chỉ làm việc.
3. Bài làm ở nhà: Vẽ một máng cỏ vào tập bài làm với tựa đề: Emmanuel.
V. KẾT THÚC.
Đọc kinh Sáng danh.
 
…………………………………………….
 
BÀI 5:  CUỘC SỐNG TRẦN THẾ CỦA CHÚA GIÊSU
 
Lời Chúa: “Đức Giê-su đi xuống cùng với cha mẹ trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” Lc 2, 61).
Ý chính   : 1. Lược sử cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu (Lc 2,41-52).
                   2. Ý nghĩa đời ẩn dật của Chúa Giêsu (Lc 2,51-52).
                   3. Ý nghĩa đời công khai của Chúa Giêsu (Mc 1,9-13).
                   4. Chúa Thánh Thần trong đời sống trần thế của Chúa Giêsu (Lc 1,26-38; 1,39; Mt 1,20-25; 3,16; 4,1-11)
Tâm tình  :  Ngưỡng mộ, thán phục Chúa Giêsu.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Lạy Chúa Giêsu, trong 33 năm cuộc đời trần thế, Chúa đã dành 30 năm âm thầm làm việc và cầu nguyện dưới mái nhà Nazarét xin cho chúng con biết theo gương Chúa, vâng lời cha mẹ, các vị hướng dẫn và nhiệt tâm chu toàn bổn phận của mình.
3. Dẫn vào bài mới: Chúng ta đã cùng nhau chiêm ngắm Chúa Giêsu Hài Nhi sinh tại Belem. Hôm nay chúng ta tiếp tục học hỏi về cuộc sống trần thế của Người.
 
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập: Đã sinh ra trong cuộc đời, ai cũng có những chặng đường của cuộc sống. Vậy cuộc đời trần thế của Chúa Giê su có những gì. Chúng ta cùng lắng nghe Lời Chúa.  Mời các em đứng
B. Công bố Lời Chúa: Lc 2,41-52
Sau khi nghe Lời Chúa, thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Dưới mái nhà Nazaret, Chúa Giêsu đã sống như một người con ngoan thảo với cha mẹ. Đời sống âm thầm của Chúa Giêsu dạy ra rất nhiều bài học. Ước gì chúng ta luôn noi gương Chúa mà sống vâng phục và hiếu thảo trong gia đình. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
Lc 2, 1-20
 
 
Mt 2, 13-14
 
 
Lc 2, 22
Lc 2, 39
1. Lược sử cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu.
  • Chúa Giê-su đã sinh ra ở đâu? Tại làng Bê-lem
  • Làng ấy thuộc miền nào của nước Palestina? Miền Nam
  • Sau khi lánh nạn bên Ai Cập, gia đình Thánh gia sinh sống ở đâu? Tại Na-da-rét, xứ Galilê, miền Bắc nước Do Thái.
  • Tin mừng Luca thuật lại những sự việc nào trong thời thơ ấu của Đức Giê su?
  • Như bao trẻ em Do thái khác, Ngài cũng được cha mẹ dâng trong đền thờ theo luật Môsê
  • Năm 12 tuổi, Ngài lên đền thờ Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua
  • Sau ba mươi năm sống ẩn dật, Người đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cuối cùng Người chịu chết trên thập giá thời Phong-xi-ô Phi-la-tô, rồi sống lại và lên trời.
  • Như vậy, cuộc đời Chúa Giêsu chia làm 3 thời kỳ:
  • Thời ẩn dật: Chừng 30 năm.
  • Thời công khai: Chừng 3 năm.
  • Cuộc khổ nạn- Phục sinh: Vào dịp lễ Vượt Qua năm 30.
  • Điều mà chúng ta cần nói ở đây là tất cả cuộc đời, lời nói, việc làm và phép lạ nào của Chúa Giê su cũng đều là dấu chỉ mầu nhiệm dẫn chúng ta tới mầu nhiệm của chức làm Con Thiên Chúa và của sứ mạng cứu chuộc của Người.
 
 
 
 
Lc 2,51-52
 Lc 2,40
 
 
 
Lc 22,42
Rm 5,19
Lc 2,49
 
 
 
 
 
Lc 1, 28
 
Mt 1, 19.21
 
2. Ý nghĩa đời ẩn dật của Chúa Giêsu.
a. Nêu gương hiếu thảo:
  • Trong phần lớn cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu đã sống cuộc đời lao động chân tay bình thường, tùng phục lề luật... Quãng đời ẩn dật này được ghi lại tế nào trong Thánh kinh?  Chúa Giêsu “vâng phục” cha mẹ. Người “ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa”
  • Sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với cha mẹ là chu toàn giới răn thứ bốn, là hình ảnh trần thế về lòng vâng phục đối với Cha trên trời, là dấu chỉ cho sự vâng phục của ngày thứ Năm tuần thánh: “Xin đừng làm theo ý con mà xin theo ý Cha” và là khởi đầu việc khôi phục lại những gì mà sự bất tuân phục của Ađam đã phá hủy. Việc cậu bé Giêsu bị lạc và tìm lại được trong Đền Thờ Giêrusalem hé mở một sứ của Người là: “con phải lo công việc của Cha con”
b. Nêu gương nên thánh trong cuộc sống gia đình và lao động thường ngày
  • Gia đình Nazaret gồm những ai? T.h Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu.
  • Thánh Luca cho ta biết gì về Đức Mẹ? Sứ thần Gabriel chào Mẹ là Đấng đầy ân sủng.
  • Thánh Matthêu cho ta biết gì về Thánh Giuse? Ngài là người công chính, vâng lời sứ thần Chúa đón Maria về, đặt tên cho Giê su,  và là 1 thợ mộc
  • Đức Thánh Cha Phaolô VI đã cho ta thấy những bài học của đời sống ẩn dật Chúa Giêsu tại Na-da-rét:
  • Bài học về gia đình: Xin Na-da-rét dạy chúng ta biết gia đình là gì, sự hiệp thông yêu thương trong gia đình, vẻ đẹp đơn sơ và khắc khổ của gia đình, đặc điểm linh thánh và bất khả xâm phạm của gia đình.
  • Bài học về sự làm việc: Na-da-rét, ngôi nhà của “Giuse - ông thợ mộc”. Chính đây là nơi phải học và phải tôn xưng luật nghiêm khắc và cứu chuộc của lao động con người.
Tóm lại: Qua sự phục tùng của Chúa Giêsu đối với Mẹ Maria và thánh Giuse, cũng như qua công việc làm khiêm tốn nhiều năm tại Na-da-rét, Chúa Giêsu để lại cho ta tấm gương của sự thánh thiện trong đời sống thường ngày của gia đình và của lao động. Như vậy, đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu có những ý nghĩa này:
  • Một là nêu gương hiếu thảo, vâng phục cha mẹ,
  • Hai là nêu gương nên thánh trong cuộc sống gia đình và lao động thường ngày.
 
 
Đời sống ẩn dật của Chúa Giê-su có những ý nghĩa
này:
- Một là nêu gương hiếu thảo, vâng phục cha mẹ,
- Hai là nêu gương nên thánh trong cuộc sống gia đình và lao động thường ngày. (18)
 
 
 
 
Lc 2,51-52
 Lc 2,40
 
 
 
Lc 22,42
Rm 5,19
Lc 2,49
 
 
 
 
 
 
Lc 1, 28
 
Mt 1, 19.21
 
2. Ý nghĩa đời ẩn dật của Chúa Giêsu.
a. Nêu gương hiếu thảo:
  • Trong phần lớn cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu đã sống cuộc đời lao động chân tay bình thường, tùng phục lề luật... Quãng đời ẩn dật này được ghi lại tế nào trong Thánh kinh?  Chúa Giêsu “vâng phục” cha mẹ. Người “ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa”
  • Sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với cha mẹ là chu toàn giới răn thứ bốn, là hình ảnh trần thế về lòng vâng phục đối với Cha trên trời, là dấu chỉ cho sự vâng phục của ngày thứ Năm tuần thánh: “Xin đừng làm theo ý con mà xin theo ý Cha” và là khởi đầu việc khôi phục lại những gì mà sự bất tuân phục của Ađam đã phá hủy. Việc cậu bé Giêsu bị lạc và tìm lại được trong Đền Thờ Giêrusalem hé mở một sứ của Người là: “con phải lo công việc của Cha con”
b. Nêu gương nên thánh trong cuộc sống gia đình và lao động thường ngày
  • Gia đình Nazaret gồm những ai? Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu.
  • Thánh Luca cho ta biết gì về Đức Mẹ? Sứ thần Gabriel chào Mẹ là Đấng đầy ân sủng.
  • Thánh Matthêu cho ta biết gì về Thánh Giuse? Ngài là người công chính, vâng lời sứ thần Chúa đón Maria về, đặt tên cho Giê su,  và là 1 thợ mộc
  • Đức Thánh Cha Phaolô VI đã cho ta thấy những bài học của đời sống ẩn dật Chúa Giêsu tại Na-da-rét:
  • Bài học về gia đình: Xin Na-da-rét dạy chúng ta biết gia đình là gì, sự hiệp thông yêu thương trong gia đình, vẻ đẹp đơn sơ và khắc khổ của gia đình, đặc điểm linh thánh và bất khả xâm phạm của gia đình.
  • Bài học về sự làm việc: Na-da-rét, ngôi nhà của “Giuse - ông thợ mộc”. Chính đây là nơi phải học và phải tôn xưng luật nghiêm khắc và cứu chuộc của lao động con người.
Tóm lại: Qua sự phục tùng của Chúa Giêsu đối với Mẹ Maria và thánh Giuse, cũng như qua công việc làm khiêm tốn nhiều năm tại Na-da-rét, Chúa Giêsu để lại cho ta tấm gương của sự thánh thiện trong đời sống thường ngày của gia đình và của lao động. Như vậy, đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu có những ý nghĩa này:
  • Một là nêu gương hiếu thảo, vâng phục cha mẹ,
  • Hai là nêu gương nên thánh trong cuộc sống gia đình và lao động thường ngày.
 
 
 
 
 
Đời sống ẩn dật của Chúa Giê-su có những ý nghĩa
này:
- Một là nêu gương hiếu thảo, vâng phục cha mẹ,
- Hai là nêu gương nên thánh trong cuộc sống gia đình và lao động thường ngày. (18)
 
 
 
 
 
Mc 1,9-13
 
 
 Lc 3,3
 
 
Mc 1, 12-13
 
Lc 4, 1-13
 
 
 
 
Rm 5, 18
 
 
 
 
 
 
 
 
 Mc 1,14-15
 
 
 
 
Mt8,11;28,19
Lc 4, 18
 
Mc 4, 33-34
3. Ý nghĩa đời công khai của Chúa Giêsu.
a. Khai mạc:
  • Chúa Giê su rời mái nhà Nazareth năm Ngài bao nhiêu tuổi? Khoảng 30 tuổi (năm 27 sau công nguyên)
  • Biến cố nào khởi đầu cho đời hoạt động công khai của Chúa Giêsu? chịu phép rửa thống hối của Gioan và chịu ma quỉ cám dỗ.
  • Gioan rao giảng phép rửa nào? Phép rửa thống hối để được ơn tha tội
  • Tại sao Chúa Giêsu đón nhận phép Rửa của Gioan? Ngài tự liệt mình vào số các tội nhân. Phép rửa này báo trước cuộc rửa bằng cái chết đẫm máu của Ngài. Vì tình yêu, Chúa Giêsu đã ưng nhận của sự chết để tha thứ tội lỗi cho chúng ta.
  • Sau phép rửa, Chúa Giê su đi đâu? Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Ngài đi vào hoang địa và ở đó ăn chay 40 ngày
  • Sa-tan cám dỗ Chúa Giêsu mấy lần và cám dỗ điều gì? 3 lần ma quỉ cám dỗ Chúa về bánh ăn, quyền uy và của cải.
  • Chúa Giêsu đã chiến đấu và chiến thắng cám dỗ thế nào? Ngài dùng Kinh thánh và nói lên ý nghĩa của Kinh thánh để quyết liệt chống lại cám dỗ
  • Biến cố này có một ý nghĩa cứu độ nào? Chúa Giêsu là Ađam mới luôn trung thành, trong khi Ađam cũ sa ngã. Chiến thắng ma quỉ, báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn.
Tóm lại, Chúa Giêsu đã khai mạc đời công khai của Người với phép rửa thống hối của Gioan và chiến thắng những cơn cám dỗ của ma quỉ. Người đã thông cảm thân phận yếu đuối của loài người. Người chiến thắng để chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Chúa Cha, khác với Ađam đã sa ngã.
b. Rao giảng Nước Thiên Chúa:
  • Sau khi ông Gioan bị nộp, Chúa Giêsu đã làm gì? Ngài đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.
  • Người rao giảng thế nào? Người nói: “Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.
  • Tin vào Tin mừng là tin vào Đức Giê su và gương sống của Người vì Người là chính Tin mừng.
  • Những ai được kêu gọi gia nhập Nước Trời? Mọi người:  kẻ nghèo hèn, bé mọn và tội lỗi bị khinh thường, loại bỏ. Tất cả mọi người đều được mời gọi sám hối và tin vào Chúa Kitô. Đấy là điều kiện để được sống trong Nước Thiên Chúa.
  • Đức Giê su đã làm những dấu hiệu nào của Nước Thiên Chúa như lời các ngôn sứ loan báo? Người chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỉ, cho kẻ chết sống lại…
Khi bắt đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu đã đến sông Gio-đan chịu phép rửa của ông
Gio-an để nói lên rằng: Người chấp nhận và khai mạc công trình cứu chuộc của Người. Công trình này sẽ được hoàn thành trong cuộc khổ nạn. (19)
 
Chúa Giê-su chịu cám dỗ để cảm thông thân phận yếu đuối của loài người. Người chiến thắng để chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Chúa Cha, khác với A-đam đã sa ngã. (20)
 
Khi rao giảng, Chúa Giê-su loan báo: “Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). (21)
 
Lời loan báo Nước Thiên Chúa là một Tin Mừng vì mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa và Nước ấy thuộc về những người nghèo hèn, bé mọn, nghĩa là những ai đón nhận với lòng khiêm hạ. (22)
 
 
Mc 1, 18
Lc 2,35
Lc 1, 39-45
 
 
 Mt 3,16
 
Mt 4,1-11
4. Chúa Thánh Thần trong đời sống trần thế của Chúa Giêsu.
  • Khi Ngôi lời nhập thể Chúa Thánh Thần đã hiện diện và tác động thế nào? Thánh Thần tác động trong lòng trinh nữ Maria, Thánh Thần khơi lên trong tâm trí bà Elisabet giúp bà nhận ra Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa
  • Chúa Thánh Thần đã hiện diện và tác động thế nào trong đời sống ẩn dật và cả đời công khai của Chúa Giêsu?
  • Chúa Thánh Thần tỏ hiện trong ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan
  • Chúa Thánh Thần dẫn Chúa Giêsu vào hoang địa ăn chay và chịu ma quỉ cám dỗ
  • Chúa Thánh Thần hằng hiện diện và kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô trong công trình cứu chuộc.
  • Chúa Giê su hứa ban Thánh Thần để Ngài dạy ta cầu nguyện và biết sống đẹp lòng Chúa Cha. Chúng ta hãy tin kính và cầu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết đón nhận hồng ân cứu độ. Giờ đây, chúng ta xin Chúa Thánh Thần giúp ta biết cầu nguyện cùng Chúa Giêsu.
Chúa Thánh Thần đã hiện diện và tác động nơi đời sống của Chúa Giêsu từ khi Nhập thể, suốt đời sống ẩn dật và cả đời công khai. Chính Thánh thần làm cho Đức Kitô Phục Sinh
 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, chúng con tạ ơn Chúa đã nêu gương cho chúng con trong cuộc sống nơi trần thế này. Xin cho mỗi người chúng con ý thức và sống như Chúa: “càng lớn lên, càng thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2,40)
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Đức Giê-su đi xuống cùng với cha mẹ trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài”. (Lc 2, 61)
  • Bài học: Số 18-22.
 
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Noi gương Chúa Giêsu, em luôn vâng lời cha mẹ.
3. Bài làm ở nhà: Đọc Tin Mừng theo thánh Matthêu 4,1-11
V. KẾT THÚC.
GLV gợi ý tạ ơn và kết thúc.

 
……………………………………
 
BÀI 6:  CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU  
 
Lời Chúa:  “Khi Thầy trò tụ họp ở miền Ga-li-lê, Đức Giê-su nói với các ông: “Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ngày thứ ba Người sẽ chỗi dậy” (Mt 17,22).
Ý chính   : 1. Chúa Giêsu lên Giêrusalem (Mc 10,32-34).
                   2. Ai gây ra cái chết của Chúa Giêsu (Ga 11,47-53).
                   3. Tại sao Thiên Chúa muốn Chúa Giêsu phải chết ?(1Ga 4,9-10)
Tâm tình  : Hối tiếc vì những lỗi phạm - cảm tạ hồng ân cứu chuộc.
Chuẩn bị: Tượng chịu nạn, tranh ảnh cuộc thương khó hay chặng đàng thánh giá.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa:
Chúa Giêsu đã chết vì yêu chúng ta. Các em hãy nhìn lên Thánh giá và thưa với Chúa: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu con và đã chết vì con. Mỗi ngày con sẽ cố gắng ngoan hơn để đáp đền tình yêu Chúa.
3. Dẫn vào bài mới: 
Sau thời gian sống ẩn dật tại Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Ngài được nhiều người ca tụng nhưng cũng không thiếu kẻ chê bai ghen ghét, đặc biệt giới lãnh đạo Do thái giáo luôn chống đối Chúa. Và cuộc chống đối đã lên tới cao điểm, khiến Chúa Giêsu phải chịu khổ nạn như chúng ta học trong bài hôm nay.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Hôm đó, tàu “Con nhạn” chở rất đông hành khách, hầm tàu chở đầy nhựa cây và dầu hắc tiến vào cửa biển Buffalô. Khi tàu gần cập bến, thì tự nhiên lửa bốc cháy dữ dội. Hành khách, thủy thủ hốt hoảng xô lấn tìm đường thoát thân. Viên Truyền trưởng dồn họ về phía trước, miệng hô to:
- Gioan May-na (Jean Maynard)!
- Dạ, có tôi ?
- Cho tàu quay về phía tây nam và ép vào bờ.
Gioan May-na không chút do dự, con tàu lướt nhanh vào bờ. Viên thuyền trưởng lo lắng gọi to:
- Gioan May-na! Cố gắng thêm 5 phút nữa, được không?
- Xin Chúa giúp tôi!
Tàu ép sát vào bờ, dừng lại. Hành khách và đoàn thủy thủ thoát nạn, còn Gioan May-na chết thiêu trên tàu.
Gioan May-na đã hy sinh để cứu sống một số hành khách và đồng bạn trên tàu; Chúa Giêsu, vì yêu thương, đã hy sinh chịu chết để cứu chuộc và đem lại cho ta sự sống đời đời cho toàn thể loài người. Mời các em đứng và cùng đọc Mc 10,32-34.
B. Công bố Lời Chúa: Mc 10,32-34.           -    thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Chúa Giê su đã biết trước về cuộc khổ nạn và người đã báo trước về việc Ngài chịu đau khổ, chịu chết và sống lại. Chúng ta hãy thinh lặng cúi đầu để cảm nhận tình yêu cứu chuộc Chúa dành cho chúng ta và dâng lên Ngài quyết tâm sống tốt để đáp lại tình yêu ấy. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
 
 
Ga 2,16
Lc 13,33
 
Ga 11,7.8.16
 
Lc 9,22.44; 18, 31-33; Mt 26,2.12; Lc12,50
 
 
 
 
 
Lc 2,41-42;
Ga 2,13-14; 11,7
 
Lc 9,51
 
Mc 10,32
 
 
Mt 21,1-2.6; 26,17;21,9
 
 
 
 
 
 
Mt21,9.14.15
 
 
 
Ga 2,19
 
 
 
Mt21,16;26,4
Mc 11,28
 
1. Chúa Giêsu lên Giêrusalem.
a) Tự nguyện:
  • Với đất nước và dân tộc Do Thái, Giêrusalem có gì đặc biệt? Đó là thủ đô của nước này và là trung tâm tôn giáo.
  • Trung tâm tôn giáo của Do thái giáo có điểm gì đặc biệt? Nơi đây có Đền Thờ là “nhà của Chúa Cha” và là nơi vị tiên tri thi hành sứ mệnh hiến tế của mình
  • Tại sao các tông đồ lo sợ khi Chúa Giêsu quyết định đi lên Giêrusalem? Vì các ông biết rõ “người Do thái tìm cách ném đá Thầy”
  • Chúa Giêsu có biết tai họa sẽ đến với Người không? Có, đã 3 lần Người loan báo những tai họa đó. Ngài biết rõ “ngày, giờ” đã đến và người mong chờ, quyết chí thực hiện và hoàn tất
  • Tất cả những điều đó cho thấy:  Chúa Giêsu tự nguyện chịu chết vì yêu thương chúng ta và để ta được sống. Có nhiều vị thánh đã theo gương Chúa Giê su để hiến mạng chết thay cho người khác như cha Maximien Kolbe, sự dấn thân của mẹ Têrêsa Calcutta …
b) Tỏ mình là Vua Kitô:
  • Chúa Giêsu đã lên Giêrusalem mấy lần? nhiều lần
  • Lần lên Giêrusalem này có điều gì đặc biệt so với những lần trước đó? Mời các em mở Tin mừng
  • Chính Chúa Giêsu quyết tâm ra đi, Ngài dẫn đầu các môn đệ
  • Có sự chuẩn bị trang trọng: Đức Giêsu sai hai môn đệ đi mượn lừa
  • Các môn đệ: phần thì kinh hoàng, phần thì nôn nóng nhưng vẫn tích cực tham gia.
  • Dân chúng đón rước Chúa với những lời tung hô: “Hoan hô con vua Đavít, chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa, hoan hô trên các tầng trời”
  • Việc làm và quang cảnh này cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Vua Kitô.
c) Nước Thiên Chúa sắp hoàn thành:
  • Mùa thu năm 27, Chúa Giêsu lên Giêrusalem trong khung cảnh nào? Trong sự đón rước tưng bừng nhưng cũng đầy náo động và thách đố:
  • Dân chúng reo hò: “Hoan hô Con vua Đavít”,
  • Những kẻ mù lòa, què quặt đến với Chúa Giêsu trong Đền Thờ và được Chúa Giêsu chữa lành
  • Chúa Giêsu đánh đuổi các con buôn để thanh tẩy Đền Thờ, lật bàn của những kẻ đổi bạc, xô ghế của những kẻ bán bồ câu. Thách đố quyền lực Do thái giáo: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại”
  • Các Thượng tế và Kinh sư (cấp lãnh đạo Do thái giáo) chất vấn Chúa Giêsu về tình hình náo động và về quyền hành động. Cuộc đối đầu mỗi lúc một căng thẳng và cuối cùng họ quyết định bắt và giết Chúa Giêsu. Ngài đã bị bắt và bị giết trước lễ Vượt Qua năm đó, nhưng rồi Người đã sống lại.
  • Tất cả những điều này cho thấy Nước Thiên Chúa đã đến, một Nước mà Vua Messia sẽ thiết lập bằng lễ Vượt Qua của chính mình.
Tóm lại, việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem có ý nghĩa này:
  • Một là để tự nguyện chịu chết.
  • Hai là để tỏ mình là Vua Ki-tô.
  • Ba là cho thấy Nước Thiên Chúa sắp hoàn thành khi Người chịu chết và sống lại.
 
 
 
 
 
 
 
Việc Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem có ý nghĩa này:
- Một là để tự nguyện chịu chết.
 
 
 
 
 
 
 
 
- Hai là để tỏ mình là Vua Ki-tô.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
- Ba là cho thấy Nước Thiên Chúa sắp hoàn thành khi Người chịu chết và sống lại. (23)
 
Ga 11,47-53
Mt 26,14-16 ; 26,47
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lc 23,34;
Cv 3,17
 
 
1 Cr 15,3
2. Ai gây ra cái chết của Chúa Giêsu.
  • Ai giết Chúa Giêsu?  Mời các em mở Ga 11,47-53 …
  • Lãnh đạo Do thái giáo là Thượng tế và các người Pharisêu sợ mất ảnh hưởng, mất quyền hành, nên nhờ Giuđa làm nội gián và sai một số người mang gươm giáo, gậy gộc đến bắt Chúa Giêsu tại vườn Cây Dầu, rồi dẫn đến Thượng tế Caipha, nộp cho Tổng trấn Philatô. Bị xúi giục, đám đông dân chúng xin tha Baraba mà giết Đức Giêsu. Họ đã làm áp lực buộc Philatô phải lên án tử hình cho Chúa Giêsu.
  • Cấp lãnh đạo xã hội mà Philatô đại diện cho Hoàng đế Rôma. Sau khi điều tra, ông biết rõ Chúa Giêsu vô tội, nhưng vì áp lực của dân chúng, ông đã kết án tử hình cho Chúa Giêsu.
  • Đám lính Rôma: đã hành hạ, nhạo báng, và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá tại Gôn-gô-tha.
  • Dân chúng tham dự vụ án hoặc vì tò mò, hoặc do bị xúi giục đã lên án tử hình cho Chúa Giêsu.
  • Trên thập giá, chính Chúa Giêsu đã tha thứ cho những người trên.  Thánh Phêrô đã coi hành động của những người Do thái và cả của những thủ lãnh của họ như “do không hiểu biết”
  • Thủ phạm của vụ án Chúa Giêsu là chính những tội nhân trong đó có chúng ta. Thánh Phaolô giúp chúng ta khám phá ra sự thật này: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta”. Việc bỏ lễ Chúa nhật, lười biếng, bất phục tùng, gian lận, trộm cắp... là một cách giết Chúa và do đó chính chúng ta là “thủ phạm” của vụ án Giêsu !
 
 
 
 
Một số người lãnh đạo Do Thái đã chủ mưu giết Chúa Giê-su. Nhưng chính chúng ta cũng gây nên cái chết của Người mỗi khi chúng ta phạm tội, như lời Thánh Phao-lô nói: “Chúa Giê-su đã chết vì tội lỗi chúng ta” (24)
 
 
St 22,1-18
 
 
 
 
1 Ga 4,9-10
 
 
 
Rm 5,12
St 1,1-2, 25
 
 
1Ga 4,9.10
Pl 2,8
Rm 5,8
Dt 10,5-10
3. Tại sao Thiên Chúa muốn Chúa Giêsu phải chết?
  • Abraham yêu thương người con là Isaac hơn chính mạng sống ông nhưng Chúa bảo Abraham làm gì? Dâng người con duy nhất đó làm của lễ thượng hiến.
  • Abraham có từ chối Thiên Chúa không? Không, ông sẵn sàng hiến dâng người con một, và Thiên Chúa chúc lành cho ông
  • Thiên Chúa cũng chỉ có một người Con duy nhất là Chúa Giêsu Kitô nhưng Ngài sai người con ấy đến trần gian để làm gì? Các em đọc 1 Ga 4,9-10… Ngài chịu chết để chúng ta được sống
  • Tại sao Chúa Giêsu phải chết?
  • Nguyên tổ chúng ta phạm tội và vì tội mà sự chết đã đột nhập thế gian làm hỏng chương trình sáng tạo tốt đẹp của Thiên Chúa và do đó mọi người phải chết.
  • Thiên Chúa vì thương, muốn con người được sống và sống hạnh phúc nên đã sai Con Một đến đền tội cho thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. “Đức Kitô đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá để ta nên công chính. Ngài chết để chu toàn sứ mệnh cứu rỗi nhân loại, chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi”. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta
  • Tóm lại, chính vì yêu thương chúng ta mà Chúa Giêsu phải chết. Nhờ cái chết tự nguyện và vâng phục, Chúa Giêsu đã chu toàn sứ mệnh đền tội và làm cho ta nên công chính.
  • Em làm gì để đền đáp tình thương Thiên Chúa và sự hy sinh cao cả của Chúa Giêsu? Em xin Chúa Thánh Thần ban cho em ơn sức mạnh để can đảm chấp nhận gian khổ trong cuộc đời, sẵn lòng noi gương Chúa Giêsu cứu giúp những người khác, nhất là những người nghèo, nghèo thể xác và tinh thần.
 
 
 
 
 
 
Vì yêu thương chúng ta, Thiên Chúa đã “sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). (25)
 
 
 
 
 
Nhờ cuộc khổ nạn, Chúa Giê-su đã chu toàn sứ mệnh đền tội và làm cho ta nên công chính. (26)
D. Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Cha yêu thương chúng con đến độ sai Con Một của Cha là Chúa Giêsu đến hy sinh làm của lễ đền tội chúng con. Xin cho chúng con nhận ra tình thương của Cha qua cuộc khổ nạn của Con Cha mà biết chấp nhận những vất vả khi thi hành bổn phận hàng ngày.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Khi Thầy trò tụ họp ở miền Ga-li-lê, Đức Giê-su nói với các ông: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ngày thứ ba Người sẽ chỗi dậy”            (Mt 17,22).
  •      Số 23- 26.                                                                          
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Khi gặp gian nan đau khổ, em nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu mà nỗ lực vượt qua.
3. Bài làm ở nhà:Lấy giấy màu, cắt hình một cây thánh giá, rồi dán lên trang vở với dòng chữ “Chúa Con đến hy sinh làm của lễ đền tội” (2 Cr 5,19), hoặc dòng chữ “Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi chúng ta” (1 Cr 15,3).
V. KẾT THÚC.
Nhắc nhở - Tạ ơn  - Kinh Sáng danh.

 
 ………………………………………
 
Bài 7: CHÚA GIÊ-SU SỐNG LẠI VÀ LÊN TRỜI
 
Lời Chúa: “Những người này bảo hai ông: “Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” (Lc 24,34).
Ý chính   : 1. Chúa Giêsu sống lại và lên trời (Lc 24,33-35).
                   2. Sống niềm tin Phục sinh (Cv 4,34; 2,44-45; 2,42; 2,46-47).
Tâm tình  : Hân hoan vui mừng.
Chuẩn bị: Tranh Chúa sống lại và lên trời.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vượt qua cái chết để bước vào sự sống mới. Xin cho chúng con biết can đảm vượt qua những ích kỷ, ganh tị nhỏ nhen và những lười biếng... trong đời sống thường ngày để được tham dự vào sự sống của Chúa.
3. Dẫn vào bài mới: Vì tội lỗi nhân loại mà Chúa Giêsu đã tự nguyện chịu chết trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Người đã sống lại như Lời Người đã báo trước. Vậy dựa vào đâu ta biết Chúa Giêsu đã sống lại và lên trời? Đó là nội dung học hôm nay.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Có 2 người trẻ theo Chúa Giê su làm môn đệ. Họ hy vọng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.  Khi Người bị án tử hình và đã đóng đinh Người vào thập giá, họ buồn bã,  thất thểu đi về làng Emmau từ sáng sớm.  Một người đồng hành đã trò chuyện, chia sẻ và giải thích Kinh thánh … nhưng cũng chẳng làm tan biến vẻ u buồn và lo lắng của họ.  Đến tối, khi ngồi vào bàn ăn, người khách lạ “cầm bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ”. Mắt họ liền mở ra và nhận ra Chúa Giêsu phục sinh.
Hai người này đã hành động thế nào sau khi biết Chúa Giêsu đã sống lại thật? Mời các em cùng  đọc Lc 24,33-35
B. Công bố Lời Chúa: Lc 24,33-35   -  thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Hai môn đệ khi nhận ra vị khách đồng hành là Chúa Giê su phục sinh, đã vội vã trở về Giêrusalem tìm gặp các Tông đồ, và niềm tin Chúa sống lại đã bừng lên trong lòng các ông. Xin Chúa Thánh Thần soi lòng mở trí, giúp chúng ta luôn vững tin vào Chúa Giêsu phục sinh. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
 
 
Lc 24,13-35
 
Mt 16,21;  17,23; 20,19
 
 
 
Ga 19,38-42
 
 
 
 Ga 20,1-10
Mt 28,1-8. 11-15
 
Ga 20,8
 
 
 
Ga 20,11-18
Ga 20,19-29
Lc 24,13-35
1 Cr 15,6. 8
 
 
Cv 1,6-11
 
 
1. Chúa Giêsu sống lại
a) Những lần báo trước:
  • Chúa Giê su báo trước về cuộc tử nạn và phục sinh của Người mấy lần? 3 lần
  • Hai môn đệ Emau có nhớ những lời Chúa Giê su đã tiên báo không? Tại sao? Không, vì các ôngbuồn rầu, sợ hãi, hoang mang.
  • Để chúng ta có niềm tin và sự phục sinh của Chúa Giê su, chúng ta cùng đọc lại những lời tiên báo ấy? Cho các em đọc Mt 16,21; 17,23; 20,19
b) Ngôi mộ trống:
  • Ở Việt Nam ta, sau khi có 1 người qua đời, thân nhân người ấy sẽ làm gì? Tẩm liệm, mai táng hoặc hỏa táng
  • Ông Giuse, Nicôđêmô và Gioan an táng Chúa Giêsu thế nào? An táng trong huyệt mộ đá theo phong tục Do thái, lấy tảng đá lớn đậy cửa mồ.
  • Sợ điều bất trắc xảy ra nơi mồ Chúa Giêsu, các thương tế và Biệt phái đã làm gì? Xin Philatô cho lính đến canh mồ cẩn mật
  • Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Các phụ nữ đã đi viếng mộ Chúa vào sáng sớm ngày thứ nhất sau lễ Vượt Qua. Đến nơi, các bà thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Các bà chạy về báo tin. Ông Phêrô và Gioan đã tới mộ, các ông hoang mang.
Ngôi mộ trống không phải là bằng chứng cho việc Chúa sống lại vì có thể ai đó đã ăn cắp xác chết. Tuy nhiên, sự kiện này đã là dấu chỉ quan trọng, là bước đầu tiên để các môn đệ tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại.
c) Những lần hiện ra của Chúa Kitô phục sinh:
  • Khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu đã hiện ra với những ai? Mời các em mở sách Tin mừng
  • Với bà Maria Mađalena và các phụ nữ
  • Với Phêrô và nhóm tông đồ
  • Với 2 môn đệ trên đường Emmau
  • Thánh Phaolô cho biết Chúa Giêsu “đã hiện ra với hơn 500 người một lượt” và chính ông cũng đã được gặp Chúa Kitô Phục sinh
  • Về việc Chúa Phục sinh, các tông đồ, dù đã được báo trước nhiều lần, vẫn không hiểu, không tin. Nhưng những chứng cứ hiển nhiên trên đây khiến các ngài phải công nhận sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô là sự thật, là một sự kiện lịch sử và dám lấy mạng sống mình để làm chứng. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu còn hiện ra dạy dỗ, an ủi các môn đệ trong 40 ngày. Trong một lần gặp gỡ các tông đồ, sau khi căn dặn các ông nhiều điều, Chúa Giêsu lên trời.
 
 
 
 
 
Sau khi chết chưa đủ ba ngày, Chúa Giê-su đã sống lại như Người đã báo trước. (27)
 
 
 
Dựa vào hai điều này mà biết Chúa Giê-su đã sống lại thật:
- Một là ngôi mộ không còn xác Chúa mà chỉ còn lại những vải liệm xếp ngay ngắn gọn gàng.
 
 
 
 
- Hai là Chúa Giê-su đã nhiều lần hiện ra với các môn đệ, cùng ăn uống và trò chuyện thân mật với họ. (28)
 
 
 
Cv 1, 6-11
2. Chúa Giêsu lên trời
  • Câu chuyện Chúa Giêsu về trời được sách Công vụ Tông đồ thuật lại thế nào? Mời các em cùng đọc Cv 1, 6-11
  • Khung cảnh: nhiều người đang tụ họp
  • Đức Giê su dạy dỗ họ
  • Người được cất lên và có đám mây quyện lấy Người
  • Hai thiên thần nói về ngày Chúa trở lại trong vinh quang
  • Việc Chúa Giê su về trời là niềm hy vọng cho chúng ta. Xin cho mỗi chúng ta luôn biết yêu mến đời sống thánh thiện để được hưởng hạnh phúc trên trời
 
Sau khi sống lại, Chúa Giê-su còn hiện ra dạy dỗ, an ủi các môn đệ trong 40 ngày rồi Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. (29)
 
 
 
Lc 24,17.21-24; 24,33-35
 
 
 
Cv 4,34; 2,44-45
Cv 2,42
Cv 2,46-47
3. Sống niềm tin Phục sinh:
  • Trên đường từ Giêrusalem đến Emmau và ngược lại, 2 môn đệ đã có những tâm trạng và hành động khác nhau lúc đi và khi về như thế nào?
  • Lúc đi: chán nản, buồn sầu, thất vọng
  • Khi về: phấn khởi, vui sướng, tin tưởng
  • Điều gì đã làm biến đổi nhận thức và hành động của 2 ông như vậy? chính là niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh.
  • Hội thánh thời các tông đồ sống niềm tin Phục sinh thế nào?
  • Hiệp thông bác ái: “Trong cộng đoàn không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa đều bán đi lấy tiền, đem đặt dưới chân các tông đồ”
  • Chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, siêng năng tham dự thánh lễ và cầu nguyện không ngừng
  • “Hân hoan vui vẻ và được toàn dân thương mến”
  • Ngày nay, chúng ta sống niềm tin Phục sinh thế nào?
  • Chiêm ngưỡng đời sống của các tông đồ sau khi Chúa sống lại mà noi theo, bắt chước.
  • Sống và làm chứng cho Chúa Phục Sinh trong môi trường sống, luôn sống lạc quan tin tưởng, can đảm theo đường lối Chúa, dầu phải chấp nhận những thiệt thòi, mất mát, vì tin rằng ta sẽ được dự phần vinh quang với Người.
  • Xin Chúa Thánh Thần giúp ta biết sống niềm tin Phục sinh.
 
 
Tin vào Chúa Giê-su Phục sinh, ta luôn sống lạc quan tin tưởng, can đảm theo đường lối Chúa, dầu phải chấp nhận những thiệt thòi, mất mát,vì tin rằng ta sẽ được dự phần vinh quang với Người. (30)
 
 D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu Phục sinh vinh quang, Chúa đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Xin giúp chúng con chiến thắng tính hư nết xấu của mình để được sống lại vinh quang với Chúa.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Những người này bảo hai ông: “Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon (Lc 24,34)
  • Số 27- 30.                                                                           
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Sống niềm tin Phục sinh bằng thái độ luôn vui tươi, hòa nhã với mọi người để thông phần vào vinh quang của Chúa Phục sinh.
3. Bài làm ở nhà: Em ghi lại vào tập bài làm câu Kinh thánh làm em cảm kích nhất trong bài giáo lý này
V. KẾT THÚC.
(GLV nhắc nhở toàn bài và khơi gợi niềm vui vì Chúa đã sống lại. Rồi kết thúc với bài hát Phục sinh hoặc kinh Sáng Danh).

 
……………………………..
 
Bài 8: CHÚA GIÊ-SU SẼ ĐẾN PHÁN XÉT
 
Lời Chúa: “Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt 16,27).
Ý chính   : 1. Chúa Giêsu đến thế gian nữa không ? (Ga 14,1-3).
                   2. Phán xét cuối cùng (Mt 16,24-27).
                   3. Hoàn tất Nước Thiên Chúa (1 Cr 15,20-24).
Tâm tình  :  Chờ mong trong nỗ lực sống tốt.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa để xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, bằng chính lối sống hiền hòa ngay thẳng của chúng con, để chuẩn bị cho ngày vui mừng trọn vẹn là ngày Chúa trở lại trong vinh quang
3. Dẫn vào bài mới: Chúa Giêsu đã sống lại và lên trời, nhưng Người sẽ lại đến để hoàn tất Nước Thiên Chúa. Người sẽ trở lại thế nào? Đây là nội dung bài học hôm nay
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập: Thời ông Nôe đã xảy ra chuyện lụt đại hồng thủy. Dân chúng không tin lời ông Nôe nói nên ngày ngày vẫn ăn uống say sưa … Khi cơn hồng thủy ập tới và tất cả bị hủy diệt. Vậy Chúa Giêsu có trở lại cách đột ngột như thế không? Mời các em cùng đọc Ga 14,1-3
B. Công bố Lời Chúa: Ga 14,1-3   -  thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Chúa Giêsu yêu thương ta, biết ta khao khát có được niềm hạnh phúc và sự bình an của Chúa nên Ngài hứa sẽ đón ta về với Chúa Cha hưởng hạnh phúc Nước Trời. Xin lời Chúa soi sáng, hướng dẫn và giúp chúng con biết sống niềm tin để được hưởng trọn vẹn hạnh phúc mà Chúa Giê su đã hứa. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
Mt 24,26-28.30 ; 25,31
 Cv 1,11
 
Ga 13,1
 
Ga 14,1-3
 
1. Chúa Giêsu sẽ trở lại:
  • Tin “Chúa Giêsu sẽ trở lại” được loan báo này trong những dịp nào?
  • Chúa Giêsu loan báo trong nhiều dịp Mt 24,26-28.30 ; 25,31
  • Trong ngày Chúa Giêsu về trời, các thiên sứ cũng loan báo Người sẽ trở lại
  • Khi Chúa Giêsu loan báo cho nhóm 12 tông đồ về việc Người sắp “bỏ thế gian mà về với Chúa Cha”, các ông cảm thấy thế nào? Các ông xao xuyến, buồn sầu.
  • Chúa Giêsu nói gì để trấn an các ông? Mời các em mở Ga 14,1-3…. Người nói: Người đi “dọn chỗ và Người sẽ trở lại đem các ông về với Người
  • Em đã được lên trời bao giờ chưa? Chưa.
  • Em có tin Chúa Giê su sẽ trở lại đón em không? Có, vì Chúa yêu thương em.
 
 
 
 
 
Chúa Giê-su sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết (31)
 
 
 
Ga 5,22; Mt 16,24-27
 
Mt 25,32-33;  Lc 12,2; Mt 11,23-24. 31-46
2. Phán xét cuối cùng.
  • Trong kinh tin kính, ta tuyên xưng điều gì về ngày tận thế? Thân xác loài người sẽ sống lại kết hợp với linh hồn để trình diện trước tòa án của Thiên Chúa.
  • Ai sẽ phán xét muôn loài? Chúa Giêsu, vì Chúa Cha đã trao toàn quyền xét xử cho Chúa Con
  • Ngày tận thế được thánh Matthêu mô tả thế nào? Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần. Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm. Người phân biệt dứt khoát thiện với ác… Người phán xét về việc mỗi người đã từng nhận hay từ chối ơn thánh (những nén bạc Chúa trao) qua việc họ có sống hiệp thông với Người, với mọi người chung quanh và với vũ trụ vạn vật theo tiêu chuẩn bác ái
  • Em muốn được xếp và loại người tốt hay người xấu trong ngày Chúa trở lại phán xét? Vậy bây giờ các em phải làm gì? Tập sống tốt, nghĩ tốt và làm tốt.
 
 
 
Phán xét kẻ sống và kẻ chết nghĩa là Chúa Giê-su vinh hiển sẽ phơi bày mọi tâm tư thầm kín của mỗi người, và thưởng phạt theo việc họ đã làm. (32)
 
 
 
Mt 3,1-16.12
 
 
1Cr15,20-24
 
 
Ep 1,21-22
 
 Ep 1,10
 
Kh 20,2
 
Mc 13,32
Mt 13,36-43 Mt 25,40
 
 
 
 
Ep 5,16
Mt 25, 1-13
3. Hoàn tất Nước Thiên Chúa.
  • Trong những năm ở trần gian, Chúa Giêsu đã làm gì? Người rao giảng và thiết lập nướcThiên Chúa.
  • Theo lời thánh Phaolô, Chúa Kitô có tiếp tục công việc ấy không?
  • Chúa Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết.
  • Chúa Kitô đã mở đường đi về trời.
Vậy khi sống lại và về trời Người đã thiết lập Nước Thiên Chúa cách hoàn hảo nơi bản thân phục sinh của Người.
  • Thiên Chúa đã đặt “Đức Kitô làm đầu Hội thánh”. Như thế “Nước của Chúa Kitô đã hiện diện cách mầu nhiệm trong Hội thánh” và Hội thánh là “mầm mống và khởi đầu cho Nước ấy ở trần gian” (Hc.HT3 và 5). Ngày hoàn tất là ngày Chúa Kitô trở lại kết thúc cuộc chiến thắng quyền lực gian ác bằng việc phán xét kẻ sống và kẻ chết.
  • Có ai biết thời điểm khi nào hoàn tất Nước Thiên Chúa không?  Không, “ngay cả thiên thần trên trời hay Người Con cũng không biết”
  • Ngày tận thế sẽ xảy ra thế nào? Thiện ác sẽ được phân biệt rõ ràng và dứt khoát, ai làm lành sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng với Thiên Chúa, ai làm ác sẽ bị kết án phải sống muôn đời với kẻ dữ
  • Vậy ta phải làm gì để chuẩn bị cho ngày Chúa đến? Sống tốt cuộc sống hiện tại, quyết tâm làm điều thiện, điều tốt, tránh điều ác, điều xấu; tận dụng thời gian quí báu hiện tại, luôn tỉnh thức để được liệt vào số những người được chúc phúc
  • Thời gian giữa 2 lần Chúa Kitô đến (Giáng sinh và Quang lâm) là thời gian của Chúa Thánh Thần và Hội thánh. Chúng ta luôn biết thức tỉnh như 5 cô khôn ngoan trong dụ ngôn “10 cô trinh nữ”, nghe theo Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, cùng nhờ sức mạnh của Người mà chiến đấu can trường đạt chiến thắng cho đến phút trình diện trước tòa Chúa để lãnh phần thưởng hạnh phúc muôn đời.
Vào ngày trở lại, Chúa Giê-su sẽ thực hiện cuộc chiến thắng cuối cùng của sự thiện trên sự ác và qui tụ vạn vật để dâng lên Thiên Chúa Cha (x. 1Cr 15,24). (33)
Chắc chắn Chúa Giê-su sẽ trở lại trong vinh quang, nhưng ta không biết được lúc nào (x. 2Tx 2,3-12).
 
 
 Vì vậy, ta được mời gọi luôn sống tỉnh thức đợi chờ. (34)
 
 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa sẽ đến xét xử thế gian. Nhưng con không biết là ngày nào. Xin giúp con sống thánh thiện trong mọi công việc hôm nay để luôn sẵn sàng chờ Chúa đến với mỗi người chúng con.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt 16,27).
  • Số 31 - 34
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Em chu toàn việc bổn phận hằng ngày để chờ đón Chúa.
3. Bài làm ở nhà: Ghi vào tập bài làm “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20).
V. KẾT THÚC.
Nhắc nhở - Tạ ơn – Kinh Sáng danh.

 
………………………………………….
 
BÀI 9: CHÚA THÁNH THẦN
 
Lời Chúa: “Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người” (Ga 1,32).
Ý chính   : 1. Chúa Thánh Thần là Đấng nào? (Ga 1,32-33).
                   2. Chúa Thánh Thần đã được ban cho các môn đệ (Ga 20,19-22)
                   3. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội thánh.(Cv 2,41 ; Mt 5,48 ; Hc.HT 39)
                   4. Những hồng ân Chúa Thánh Thần.
                   5. Sống với Chúa Thánh Thần (1Cr 3,16-17).
Tâm tình  : Tin kính, thờ phượng, cầu xin Chúa Thánh Thần.
Chuẩn bị: Hình ảnh ngày lễ Ngũ tuần
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp: Ổn định chỗ ngồi, tạo không khí vui tươi.
2. Thánh hóa: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thổi hơi ban Thánh Thần Chúa trên các tông đồ như một làn gió mát dịu và phán: “Bình an cho các con”. Xin cho chúng con biết luôn mở rộng tâm hồn đón nhận những hoạt động của Chúa Thánh Thần và làm theo những gì mà Thánh thần hướng dẫn chúng con.
3. Dẫn vào bài mới:  Trong Kinh tin kính, sau khi tuyên xưng về Chúa Cha, Đấng tạo dựng trời đất, sau khi tuyên xưng về Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc loài người, chúng ta tuyên xưng về Ngôi Ba Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần. Trong ngày Rửa tội và Thêm sức, chúng ta được lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Vì thế, chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ tìm hiểu về Chúa Thánh Thần để có thể sống theo sự hướng dẫn và tác động của Người.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập: Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã nhiều lần chiến thắng nhờ những vị tướng lãnh tài giỏi như: Ngô Quyền đã cho quân bọc sắt nhọn vào đầu những cây gỗ lớn để tiêu diệt chiến thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, vua Quang Trung chiến thắng quân Thanh ở Ngọc Hồi, Đống Đa…
 Mỗi đội bóng đá đều có một tổ huấn luyện viên. Trận thi đấu thành công hay thất bại phần lớn tùy thuộc tổ Huấn luyện viên. Hội thánh là một tập thể những người tin theo Chúa Kitô luôn phải đương đầu với sức tấn công của tội lỗi. Để chiến thắng, Hội thánh cần sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần là huấn luyện viên của mình.   Vậy Chúa Thánh Thần là Đấng nào? Mời các em cùng đọc Ga 1,32-33 (mời đứng).
B. Công bố Lời Chúa: Ga 1,32-33   -   thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con giống hình ảnh Chúa, xin giúp chúng con biết giữ mãi hình ảnh Chúa trong đời sống chúng con để chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
 
Cv 19,2
 
 
 
 
 
 
Ga 14,16
Ga 16,13
 
Gl 3,14; 2 Cr 3,17; Rm 8,9
 
1 Pr 4,14
 
 
 
 
Cv 10,38
 
 
1V 18,38; Lc 12,49;1Tx 5,19
 
Xh 19,9
Xh 40,34
Xh 40,36-38
1 V 8,10-11
 Lc 9,34
Cv 1,9
 
Lc 1,35
 
 
Mt 3,16
Cv 8,16-17
TIẾT I:
1. Chúa Thánh Thần là Đấng nào?
Nhờ đâu mà ta biết Chúa thánh Thần? Tự sức mình chúng ta không biết gì về Chúa Thánh Thần, chính nhờ Chúa Giêsu, chúng ta mới biết và kính thờ Chúa Thánh Thần là Đấng chúng ta thờ lạy và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con.
a) Danh xưng:
  • Chúa Thánh Thần được biết đến qua danh xưng nào? Danh xưng “Thần Khí”, dịch từ tiếng Do thái có nghĩa là hơi thở, khí, gió. Vậy Thánh Thần là hơi thở của Thiên Chúa, hơi thở thần linh.
  • Chúa Giêsu đã gọi Chúa Thánh Thần với những danh xưng nào?
  • Đấng Bảo Trợ (dịch là Đấng An ủi).
  • Thần Chân lý
  • Thánh Phaolô gọi Chúa Thánh Thần là gì?
  • Thần Khí của lời hứa
  • Thần Khí Đức Chúa
  • Thần Khí Thiên Chúa
  • Còn thánh Phêrô thì gọi Chúa Thánh Thần là Thần Khí vinh quang
b) Biểu tượng:
  • Nước: Sau lời cầu Chúa Thánh Thần, nước trở nên dấu chỉ hữu hiệu mang lại ơn tái sinh. Vì thế, nước có ý chỉ về hành động của Chúa Thánh Thần trong Bí tích Thánh tẩy.
  • Dầu: Dầu và Thánh Thần có liên hệ mật thiết đến trở thành đồng nghĩa. Trong Cựu ước có nhiều Đấng được xức dầu của Thiên Chúa. Đức Giêsu được xức dầu Thánh Thần. Dầu là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức, Bí tích trao ban Chúa Thánh Thần.
  • Lửa: Tượng trưng sức mạnh biến đổi của tác động Thánh Thần. Lửa thiêu đốt của lễ của Êlia.  Đức Giêsu đã đến “ném lửa vào mặt đất”để diễn tả hành động của Thánh Thần. Thánh Phao lô mời gọi ta: “Đừng dập tắt Thánh Thần”
  • Mây: Kinh Thánh nhắc đến biểu tương đám mây ở đâu và khi nào?
  • Với Môsê trên núi Sinai
  • Ở lều hội họp
  • Đang khi dân Do thái đi trong sa mạc
  • Với Salomon khi cung hiến Đền Thờ
  • Khi Chúa biến hình
  • Mây che khuất mắt các tông đồ ngày Chúa về trời
Đám mây mang ý nghĩa: Sự hiện diện của Thiên Chúa và tỏ lộ Thiên Chúa hằng sống và cứu độ. Khi sứ thần nói: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” thì sự “rợp bóng” là Chúa Thánh Thần.
  • Chim bồ câu: Hình ảnh này được nhắc đến nhiều lần trong Kinh thánh:
  • Khi Đức Giêsu lên khỏi nước trong dịp chịu phép rửa 
  • Thánh Thần cũng xuống và ở lại trong tâm hồn đã được thanh luyện của người chịu thanh tẩy 
Tóm lại, Chúa Thánh Thần là Ngôi Thứ Ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Người là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như hai Ngôi cực trọng ấy
 
 
 
Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Người là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như hai Ngôi cực trọng ấy. (35)
 
Ga 16,7-15
 
 
 
Ga 20,21
 
 
 
 Ga 20,22
 
 
Cv 2, 1-11
 
 
 
2. Chúa Thánh Thần đã được ban cho các môn đệ:
  • Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hứa với môn đệ điều gì? Ngài hứa ban Thánh Thần cho các ông
  • Chúa Giêsu Phục sinh ban Thánh Thần cho các môn đệ thế nào?
  • Ngài hiện đến ban cho các ông sự bình an vào chiều ngày thứ nhất, khi các ông lo sợ vì Chúa Giêsu bị giết
  • Chúa trao cho các ông sứ mệnh loan báo Tin Mừng và ban Thánh Thần để đỡ nâng, hướng dẫn các ông thực hiện sứ mệnh ấy
  • Chúa Giêsu ban Chúa Thánh Thần cho các tông đồ bằng cách “thổi hơi” và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Chúa Giêsu lại “thổi hơi” trên các tông đồ. Người thổi hơi để ban sức sống mới, sự sống thần linh cho các tông đồ. Như vậy, Chúa Giêsu Phục sinh đã tái tạo sự sống, sự sống trong Chúa Thánh Thần.
  • Chúa Giêsu ban Chúa Thánh Thần cho các tông đồ cách long trọng khi nào? Ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Thần giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một.
Tóm lại, các tông đồ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần vào chiều ngày Chúa Giêsu sống lại và được sức mạnh của Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Ngũ tuần để bắt đầu rao giảng Tin Mừng.
 
 
 
 
 
Chúa Giê-su đã nhiều lần hứa ban Chúa Thánh Thần, rồi chiều ngày Phục sinh và ngày lễ Ngũ tuần, Người đã ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ. (36)
 
TIẾT 2: Chúa Thánh Thần, Đấng được Cha sai đến do lời cầu xin của Đức Giê su vẫn luôn làm những điều kỳ diệu. Cả hoàn vũ được canh tân, đổi mới và sinh động vì những điều thiện hảo Ngài làm. Xin cho chúng ta luôn biết tin tưởng vào sự hiện diện của Thánh Thần trong đời sống Hội Thánh và trong từng người chúng ta.
 
 
 
Cv 2, 4
 
Cv 3,1-4,22
 
 
 
 
 Cv 2,41
Cv 2,42-46
 
Cv 8,14-17; Cv 10,44-48
Cv 13,2-3
 
 
 
 
 
 
 
 
Rm 8,15
 
 
Gl 3,27
Rm 13,14
 
 
Cv 2,37-41
 
 
 
 
 Rm 8,26-27
 
 
 
1 Cr 6,19
2 Tx 2,13
3. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội thánh
a) Xây dựng:
  • Sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các Tông đồ được biến đổi thế nào?
  • Từ chỗ sợ hãi, các ông đã mạnh dạn rao giảng Chúa Phục sinh.
  • Sau khi chữa khỏi một người què ở cửa Đền Thờ Giêrusalem, Phêrô và Gioan bị điệu đến trước công nghị Do thái, bị chất vấn về quyền năng và nhờ Danh ai mà làm điều ấy. Phêrô mạnh dạn và kiên cường trả lời: nhân danh Chúa Giêsu Kitô.
  • Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong Hội thánh sơ khai?
  • Xây dựng Hội thánh: khoảng 3000 người theo đạo
  •  Qui tụ các tín hữu hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ tạ ơn, đồng tâm nhất trí cả về tiền của
  • Ngự đến trên cả các tín hữu
  • Qui tụ cả những người ngoại giáo
  • Tách riêng Barnaba và Saolô chuyên lo truyền giáo cho dân ngoại
  • Trong lịch sử của Hội thánh, Chúa Thánh Thần vẫn hằng xây dựng Hội thánh mỗi ngày thêm đông, thêm nhiều hoa trái thánh thiện mà Công đồng Vaticanô II là bằng chứng: Chúa Thánh Thần đã, đang và mãi mãi hiệp nhất mọi tín hữu nên một trong Chúa Kitô.
Tóm lại, Chúa Thánh Thần ban sức sống cho Hội thánh, hợp nhất các tín hữu nên một trong Chúa Ki-tô và thúc đẩy Hội thánh chu toàn sứ mệnh Chúa Ki-tô giao phó.
b) Thánh hóa:
Chúa Thánh Thần thánh hóa, canh tân Hội thánh thế nào?  Chúa Thánh Thần thánh hóa Hội thánh nhờ các Bí tích và Lời Chúa:
  • Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, Chúa Thánh Thần trả lại cho ta sự sống siêu nhiên mà chúng ta đã mất vì tội tổ tông và tội riêng ta.
  • Để nuôi dưỡng đức tin của ta, Chúa Thánh Thần tác động mạnh mẽ qua các Bí tích khác nhất là Bí tích Thánh Thể tăng cường sự sống siêu nhiên, ban cho ta được hiệp thông sâu xa với Chúa Kitô. Chúa Thánh Thần soi sáng lòng trí tín hữu, giúp họ nhận định, phán đoán đúng sự thật, sự thiện và thực hiện theo ý Thiên Chúa.
  • Chúa Thánh Thần, không những đã linh ứng cho các tác giả viết Kinh thánh (x. HcMK 11) mà còn tác động đến những lời ấy “đâm thấu lòng dân chúng”. Vì thế, Hội thánh đã “không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng các tín hữu (x. HcMK 21) đặc biệt trong Phụng vụ (x. HcPV 24). Bàn tiệc Lời Chúa trong Thánh lễ và trong các cử hành Bí tích là phương thức tuyệt diệu để Chúa Thánh Thần trao ban ân sủng và thánh hóa Hội thánh.
  • Chúa Thánh Thần dạy tín hữu cầu nguyện với Thiên Chúa vì do hậu quả của tội nguyên tổ, con người trở nên yếu hèn, không biết cầu nguyện thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong ta và cho ta
  • Chúa Thánh Thần thúc đẩy ta mến Chúa yêu người và làm chứng cho Chúa Kitô: Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, giúp ta sống đẹp lòng Thiên Chúa, Ngài hiện diện sống động trong thân xác ta là Đền Thờ của Thánh Thần, làm cho ta nên thánh, thúc đẩy ta mến Chúa yêu người vì Người là tình yêu Thiên Chúa, giúp ta can đảm làm chứng cho Chúa Kitô.
 
 
Chúa Thánh Thần xây dựng Hội thánh. Ngài ban sức sống cho Hội thánh, hợp nhất các tín hữu nên một trong Chúa Ki-tô và, thúc đẩy Hội thánh chu toàn sứ mệnh Chúa Ki-tô giao phó. (37)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chúa Thánh Thần thánh hoá Hội thánh làm cho các tín hữu trở nên con cái Chúa Cha, và dự phần vào chính sự sống Chúa Ki-tô. Người còn cho họ nhận biết sự thật, dạy họ cầu nguyện, thúc đẩy họ sống mến Chúa yêu người, và làm chứng cho Chúa Ki-tô. (38)
 
 
       
 
 
4. Những hồng ân Chúa Thánh Thần
  • Chúa Thánh Thần thánh hóa, canh tân Hội thánh nhờ các Bí tích và Lời Chúa. Chúa Thánh Thần làm cho các tín hữu trở nên con cái Chúa Cha và dự phần vào chính sự sống Chúa Ki-tô. Người còn cho họ nhận biết sự thật, dạy họ cầu nguyện, thúc đẩy họ sống mến Chúa yêu người, và làm chứng cho Chúa Ki-tô.
  • Đời sống của các Kitô hữu được nâng đỡ bởi các hồng ân của Chúa Thánh Thần gọi là 7 ơn Chúa Thánh Thần. Đó là ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn sức mạnh, ơn đạo đức, ơn biết kính sợ Thiên Chúa. Nhờ các hồng ân này, người tín hữu biết mau lẹ vâng theo các ơn soi sáng của Chúa.
  • Mỗi ơn Chúa Thánh Thần đều có ý nghĩa và thích hợp với nhu cầu, hoàn cảnh chúng ta: Nếu bạn nhát đảm, hãy xin Thánh Thần ban ơn sức mạnh (can đảm) để sẵn sàng làm chứng cho Chúa. Hãy luôn nhớ rằng: sự khôn ngoan trước hết là kính sợ Thiên Chúa.
Ta còn được nâng đỡ bởi bảy ơn Chúa Thánh Thần:
-Ơn khôn ngoan
- Ơn hiểu biết
-Ơn thông minh
- Ơn biết lo liệu
- Ơn sức mạnh
- Ơn đạo đức
- Ơn biết kính sợ Thiên Chúa. (39)
 
 
 
 
 
1 Cr 3,16-17
 
 
 
 
 
 
 
 
Mc 16,15
 
 
 
 
 
Mc 6,34
5. Sống với Chúa Thánh Thần
  • Nhà thờ giáo xứ chúng ta đều được mọi người góp công xây dựng, trang trí đẹp đẽ, gìn giữ sạch sẽ và tôn kính vì đó là nhà Chúa.
  • Thánh Phaolô nói đến đền thờ của Thánh Thần. Vậy đền thờ ấy là gì? Ta phải có thái độ nào với đền thờ ấy? Các em đọc 1Cr 3,16-17: “Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao”?
  • Vậy chúng ta phải sống thế nào? Phải xây dựng con người, dấn thân phục vụ, loan báo Tin Mừng, cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần và  vâng theo Chúa Thánh Thần
a) Xây dựng con người có văn hóa, có đức độ, có nhiệt tình và nhất là có nội dung đức tin vững chắc nhờ chuyên chăm học văn hóa, luyện tập nhân đức, và sống tốt trong môi trường huấn giáo (huấn giáo không chỉ là học thuộc những câu giáo lý nhưng còn là cải tạo lối sống và dẫn vào đời sống mới).
b) Dấn thân phục vụ, loan báo Tin Mừng:
  • Người Kitô đích thực thì phải thi hành sứ mệnh loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và đặc biệt, khi lãnh nhận Bí tích Thêm sức, người Kitô hữu tham dự vào chính sứ mệnh của Chúa Giêsu và rao giảng Tin Mừng như lệnh truyền Trước khi Ngài về trời
  • Người Kitô hữu sống kết hợp với Chúa Giêsu là phải sống thế nào?
-  Luôn biết trắc ẩn, bén nhạy thao thức như Chúa Giêsu biết chạnh lòng thương xót đám dân vì họ bơ vơ như đàn chiên không người chăn.
-  Phải truyền rao Tin Mừng bằng lời nói, hành động, đời sống chứng tá để mọi người nhận ra Chúa Giêsu là Đấng cứu thế và nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương
c) Cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần:
  • Ta cầu nguyện với Thánh Thần vì:
  • Thánh Thần dạy ta biết cầu nguyện đẹp lòng Chúa Cha, vì Chúa Thánh Thần là Thần Trí của Thiên Chúa
  • Thánh Thần sẽ dọi ánh sáng vào lòng ta, mở rộng trí khôn ta để đón nhận ý Chúa, thấu hiểu Lời Chúa bằng trí óc và bằng tâm hồn đức tin. Sự hiểu biết thâm sâu này giúp ta khám phá ý nghĩa của Lời Thiên Chúa và hoán cải tâm hồn.
  • Thánh Thần giúp ta nhận ra ý Chúa để thực hiện.
  • Vì thế ta luôn cậy dựa vào Chúa Thánh Thần khi cầu nguyện.
d) Vâng theo Chúa Thánh Thần:
  • Chúa Thánh Thần hoạt động nơi người tín hữu qua tiếng nói lương tâm âm thầm nhưng rõ rệt và sống động. Chúa Thánh Thần hằng chỉ bảo cho người tín hữu từng lúc đâu là điều tốt nên làm và đâu là điều xấu phải tránh.
  • Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn người tín hữu như ngự trong Đền thờ của Người. Vì thế, ai luôn vâng nghe Chúa Thánh Thần soi sáng, khơi động, thúc giục... sẽ luôn thực hiện được cuộc sống hạnh phúc.
Tóm lại, ta phải tin kính, thờ phượng, cầu xin Chúa Thánh Thần và vâng theo ơn Người soi sáng, cùng tôn trọng hồn xác ta là đền thờ của Người.
 
 
 
 
 
Ta phải tin kính, thờ phượng, cầu xin Chúa Thánh Thần và vâng theo ơn Người soi sáng, cùng tôn trọng hồn xác ta là đền thờ của Người. (40)
 
D. Cầu nguyện: Đọc kinh Chúa Thánh Thần.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người” (Ga 1,32).   /  GL  số 35- 40
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Trước khi bắt đầu một công việc, em sốt sắng xin Chúa Thánh Thần thánh hóa và giúp sức cho em.
3. Bài làm ở nhà: Em hãy vẽ hình mình đang đội mũ triều thiên.
V. KẾT THÚC.
…………………………………….
 
Bài 10: THIÊN CHÚA BA NGÔI
 
Lời Chúa: “Đức Giê-su vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra và thấy Thánh Thần tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,9-11).
Ý chính   : 1. Giáo lý về Thiên Chúa duy nhất (Mc 12,29-30).
                   2. Tên Thiên Chúa (Xh 3,14-15).
                   3. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (Mc 1,9-11).
Tâm tình  : Ước ao biến đổi tâm hồn mình trở thành Đền Thờ Ba Ngôi Thiên Chúa.
Chuẩn bị: Tranh Chúa Giêsu chịu phép rửa
I. ỔN ĐỊNH
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: (GLV hướng dẫn: Chúng ta đã học về Chúa Cha, về Chúa Con và về Chúa Thánh Thần Giờ đây, chúng ta cùng tôn vinh Thiên Chúa. Sau mỗi lời xướng, các em đáp: “Chúng con chúc tụng Chúa”).
X- Lạy Chúa Cha: Thiên Chúa sáng tạo trời đất và muôn loài trong vũ trụ.
Đ- Chúng con chúc tụng Chúa.
X- Lạy Chúa Con: Đấng cứu độ trần gian để chúng con được giao hòa.            Đ.
X- Lạy Chúa Thánh Thần: Thần Khí thánh hóa và canh tân thế giới.     Đ.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Thánh Mác-cô kể lại rằng: Khi thấy Chúa Giêsu đối đáp với những người thuộc nhóm Sađốc, một người thông luật đã hỏi: ThưaThầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu? Chúa Giêsu đã trả lời người đó thế nào? Các em hãy nghiêm trang đọc Mc 12,29-30 để biết câu trả lời đầy khôn ngoan của Chúa Giêsu- Mời đứng.
B. Công bố Lời Chúa: Mc 12,29-30   -    thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Hình ảnh Đức Giê su bước lên từ dòng sông Giodan, Thần khí ngự xuống như chim bồ câu và có tiếng nói từ trời: “Đây là con ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng” đã giới thiệu cho chúng ta về một Thiên Chúa Ba Ngôi và Lời Chúa trong đoạn Tin mừng theo Thánh Maccô các em vừa đọc đã dạy ta cách tôn thờ Thiên Chúa. Xin cho chúng ta luôn biết tôn thờ Chúa là Thiên Chúa duy nhất của chúng ta. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG gl
 
Đnl 6,4-5
 
 
 
 
Mt 4,10
Mc 12,29
 
1. Thiên Chúa duy nhất.
  • Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất là đức tin đã được Thiên Chúa mạc khải (tỏ bày) từ thời Cựu ước: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”. Niềm tin ấy được củng cố, bảo trì trong suốt lịch sử dân tộc Do thái, trở thành gia bảo của dân riêng Thiên Chúa
  • Chúa Giêsu khẳng định lại niềm tin căn bản này khi nào?
  • Trong cuộc chiến đấu với Satan
  • Khi người thông luật có ý thử Chúa
  • Sau ngày Chúa Giêsu về trời, Hội thánh tiếp tục tuyên xưng Thiên Chúa là đáng duy nhất trong Kinh Tin Kính
Khi tuyên xưng Thiên Chúa duy nhất, ta phải hiểu: chỉ có một Thiên Chúa và ngoài Người ra, không có Thiên Chúa nào khác, và ta phải thờ phượng một mình Người mà thôi (x.Mt 4,10). (41)
 
Xh 3,14-15 Xh 6,2-6
 
 
 
 
Xh 19,3-6. 8
 
 
Xh 34,7 ; Ep 2,4 ; Ga 3,16
 
Xh 34, 6
2. Tên Thiên Chúa.
  • Vào thế kỷ 13 trước Công nguyên, khi Thiên Chúa chọn gọi và sai Môsê đi giải phóng dân Do thái khỏi ách nô lệ người Ai cập. Môsê đã xin được biết tên Chúa. Thiên Chúa trả lời thế nào? “Ta là Đấng Hiện Hữu”, “Ta là Ta, Ta là Giavê”
  • Tên gọi này cho thấy Thiên Chúa vượt xa tất cả những gì con người có thể hiểu biết hay diễn tả nhưng Người cũng rất gần gũi con người. Người luôn có mặt với loài người, nhận lời họ kêu cầu, bảo vệ và giải thoát họ khỏi các thù địch. Cụ thể:
  • Chúa khởi xướng và ký kết với Israel nơi hoang địa tại núi Sinai một Giao ước (Hợp đồng) nhận Israel làm dân riêng của Người và dân Israel đã thề hứa: “Tất cả những gì Giavê đã phán bảo, chúng tôi sẽ làm theo”
  • Israel đã bất trung với Thiên Chúa, phản bội giao ước nhưng Chúa vẫn trung thành mãi mãi “giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ”, vẫn là “Thiên Chúa giầu lòng thương xót” “đến nỗi đã ban Con Một”.
Tóm lại, Thiên Chúa đã tỏ cho ta biết tên của Người là Đấng Hiện Hữu và Thiên Chúa còn tỏ cho ta biết Người “giầu ơn nghĩa và trung tín”, là Sự Thật và Tình yêu.
 
 
Thiên Chúa tỏ cho ta biết tên của Người là Đấng Hiện Hữu. (42)
 
 
 
Thiên Chúa còn tỏ cho ta biết thêm Người “giầu ơn nghĩa và trung tín” (Xh 34, 6). Người chính là Sự Thật và Tình yêu. (43)
 
 
 
 
 
 
 
Ga 14,9-10
Ga 20,17
 
Lc 9, 28-35
 
3. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
  • Trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa,  ngoài Gioan Tẩy Giả, còn có những nhân vật nào ? Có 3 nhân vật:
  • Chúa Giêsu, Người vừa được Gioan làm phép rửa, là “Con yêu dấu của Cha”.
  • Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống, bồ câu biểu tượng cho Chúa Thánh Thần.
  • Tiếng phán. « Tầng trời xé ra và có tiếng từ trời phán » là lối nói của Cựu ước diễn tả về Thiên Chúa, Đấng hiện hữu mà Chúa Kitô dạy cho biết là Chúa Cha. Tiếng phán: “Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” nói lên một tương quan giữa người nói là “Cha”và kẻ được nói tới là Chúa Giêsu
  • Trong biến cố hiển dung có sự kiện nào? Đám mây bao phủ Đức Giê su và có tiếng Chúa Cha từ trong đám mây
 
Nhờ Chúa Giê-su mặc khải mà ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi (x. Mt 28,19). (44)
Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể duy nhất và một uy quyền ngang nhau, nên chỉ là một Thiên Chúa duy nhất mà thôi. (Kinh Tiền tụng lễ Chúa Ba Ngôi).(45)
 
Tóm lại, 2 biến cố trên giúp ta xác tín về sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhờ Chúa Giêsu mạc khải mà ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể duy nhất và một uy quyền ngang nhau, nên chỉ là một Thiên Chúa duy nhất (Kinh Tiền tụng lễ Chúa Ba Ngôi).
  • Ta tuyên xưng màu nhiệm Ba Ngôi khi nào? Khi đọc kinh tin kính, kinh sáng danh, đặc biệt là khi làm dấu Thánh giá
Vậy trước khi ăn cơm ở bất cứ nơi đâu,  khi vào nhà thờ hay bắt đầu giờ kinh nguyện, em hãy làm dấu cách trang nghiêm để tỏ lòng yêu mến và tôn kính Chúa Ba Ngôi
 
D. Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúng con thờ lạy Chúa, chúng con ca ngợi Chúa. Chúng con yêu mến Chúa. Xin cho chúng con luôn nhớ mọi người là Đền thờ của Chúa Ba Ngôi để chúng con biết tôn trọng nhau.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Đức Giê-su vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra và thấy Thánh Thần tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,9-11).
  • Số 41 - 45.
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và Sinh hoạt GL cấp II.
2. Thực hành: Để tỏ lòng tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi, em kết thúc công việc bằng kinh sáng danh.
3. Bài làm ở nhà: Ghi kinh Sáng danh vào tập và trang trí thật đẹp.
V. KẾT THÚC : Nhắc các em nhớ sống dưới sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi trong từng ngày sống. “Con hãy luôn nhớ: Chúa nhìn con”.
 
………………………………………….
 
Bài 11 : HỘI THÁNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ  CỦA THIÊN CHÚA
 
Lời Chúa: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái”     (Ga 15,5)
Ý chính   : 1. Hội thánh trong chương trình cứu độ (Ga 15, 4-5).
                   2. Hội thánh là Đền Thờ Chúa Thánh Thần (Ep 2,19-22).
Qui chiếu:  sách GLHTCG 1992: các số 748-810
Chuẩn bị: - Tranh Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời
                   - Một cây kiểng có nhiều cành.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Các em thân mến, Chúa Giê su đã thiết lập Hội Thánh để trong Hội thánh, mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Trong bài hôm nay chúng ta được học hỏi về Hội thánh trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nài xin Thánh Thần Chúa, Đấng là linh hồn của Hội thánh, Đấng không ngừng canh tân Hội thánh bằng ân sủng của Người, ban cho chúng ta tâm tình yêu mến, ham thích học hỏi và xây dựng Hội thánh.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Có 1 ông cụ đã già, ông gọi các con lại và bảo họ: Cha có 1 túi vàng, ai bẻ gãy bó đũa này sẽ được thưởng túi vàng. Các con ông cố hết sức nhưng không ai làm được. Lúc ấy ông bảo: Các con hãy đoàn kết với nhau như bó đũa này để không ai làm hại được các con.
Sau lụt Hồng thủy, con cháu của Nôê sinh sôi nảy nở ngày càng đông, càng giàu mạnh. Họ dự tính xây một ngọn tháp cao thấu trời để lưu danh muôn thuở. Nhưng Thiên Chúa thấu suốt lòng kiêu căng tự mãn của họ, Người làm cho ngôn ngữ trở nên bất đồng, không ai hiểu ai... Vì thế công trình thất bại. Tháp đó được gọi là Ba-bel có nghĩa là “hỗn độn”. Còn Chúa Giêsu khi đến trần gian đã sống “hiền lành và khiêm tốn”, đã qui tụ một dân mới biết liên kết với Người và với nhau như hình ảnh của cây nho mà Thánh sử Gioan đã ghi lại. Mời các em cùng đọc Ga 15,4-5. Mời đứng
 
B. Công bố Lời Chúa: Ga 15,4-5    -   thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh cây nho để ám chỉ về Người và Hội thánh: Chúa là cây nho, còn các Tông đồ và chúng ta là cành nho. Như cành nho phải gắn liền với cây nho mới trổ sinh hoa trái, xin cho mỗi chúng ta luôn biết gắn liền với Chúa Kitô và ở trong Chúa Kitô để có thể trổ sinh nhiều hoa trái thiêng liêng. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
Mc 3, 14-15
 
 
 
 
 
1.  Hội thánh là cộng đoàn nào?
  • Tin mừng Mc 3, 14-15 kể lại chuyện gì? Đức Giê su chọn gọi và thành lập nhóm Mười hai
  • Chúa Giê su lập nhóm 12 đểlà gì? Để họ ở với Người và Người sai các ông đi rao giảng
  • Như thế, chính Chúa Giê su đã cho các môn đệ được tham dự vào sứ mạng và quyền năng của Người. Chúa Giêsu đã thiết lập Hội thánh,  qui tụ họ thành dân Chúa và thành Thân Thể Chúa Kitô.
Hội thánh là một cộng đoàn những người được Lời Thiên Chúa qui tụ thành Dân Chúa và thành Thân Thể Chúa Ki-tô. (47)
 
Ga 15,5a; Cl 1, 18
 
 
 
 
 
 
 
 
Rm 12,4-5
 
Ep 4,5
 
Ep 1,10
2.  Hội thánh trong chương trình cứu độ
  • Thánh Gioan và thánh Phao lô dung hình ảnh nào để diễn tả tương quan giữa Đức Ki tô và Hội thánh? Cây nho và cành nho, đầu và thân thể
  • Khi các em lấy một viên đá ra khỏi đống đá, viên đá đó có thay đổigì không? Không
  • Nếu ngắt chiếc lá ra khỏi cây cảnh đây, chiếc lá sẽ ra sao? Lá sẽ khô héo
  • Tại sao? Vì đá không có sự sống, còn lá cây  nhận được nhựa sống từ thân cây chuyển đến
  • Cũng thế, Hội thánh là thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô cũng phải gắn bó với Chúa Kitô  như thân mình phải gắn bó chặt chẽ với đầu để sức sống và ân sủng từ Chúa Kitô chuyển thông đến mọi người. Các tín hữu gắn liền với Chúa Kitô như cành nho phải gắn liền với cây nho để có thể sống và sinh hoa kết trái
  • Khi gắn bó với Chúa Kitô, các Kitô hữu liên kết với nhau không? Có, vì cùng chung một đức tin, một phép rửa, và có chung một Thiên Chúa là Cha
  • Thiên Chúa muốn toàn thể nhân loại được hiệp thông với Người, vì ý định của Thiên Chúa là “thâu họp tất cả nơi Đức Kitô”. Vì vậy, Hội thánh có sứ mạng rao truyền Tin mừng cho mọi tạo vật, để đưa toàn thể nhân loại về hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau.
Như vậy, Cộng đoàn Hội Thánh có vai trò nào trong chương trình cứu độ? Hội thánh vừa là dấu chỉ vừa là khí cụ của sự Hiệp thông với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.
 
 
Trong chương trình cứu độ, Hội thánh vừa là dấu chỉ, vừa là khí cụ của sự hiệp thông với Thiên Chúa, và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại (Hc.HT số 1) (47)
 
 
 
 
 
 
 
Cv 2, 42-46
 
Rm 8,15.26 -27; Gl 2, 20;
 
 
 
Ga 4,20-23
 
 
 
 
 
2 Cr 6,16
3.  Hội thánh là Đền Thờ Chúa Thánh Thần.
  • Chúa Thánh Thần xây dựng Hội Thánh thế nào? Người qui tụ các tín hữu, họ siêng năng tham dự bẻ bánh, đồng tâm nhất trí…
  • Qua Bí tính Thánh tẩy, Thêm sức, bí tích Thánh thể… Thánh Thần ban cho ta những ơn nào? Được tha tội, được làm con Chúa, lãnh nhận nguồn sống mới của Chúa Ki tô, biết cầu nguyện và sống thánh
  • Trong câu chuyện với người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu nói về nơi thờ phượng Chúa thế nào? “Đã đến giờ các người sẽ  thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giêrusalem nhưng sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế”
  • Như vậy, Chúa Giêsu muốn nói đến đền thờ nào ? Mở Ep 2,19-22 … Trong Chúa Kitô, tất cả các tín hữu được xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi Đền thánh trong Chúa nhờ Thần Khí
  • Vậy, Chúa Thánh Thần không ngừng xây dựng, thánh hóa và canh tân Hội thánh và làm cho Hội thánh trở thành “Đền thờ của Thiên Chúa hằng sống”.
 
 
Gọi Hội thánh là Đền thờ của Chúa Thánh Thần vì Chúa Thánh Thần luôn ở trong Hội thánh như linh hồn của Nhiệm thể. Người không ngừng xây dựng, thánh hóa và canh tân Hội thánh bằng các ân sủng của Người. (48)
 
 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi mọi người gia nhập Hội thánh để làm nên cộng đoàn hiệp thông. Xin giúp con biết sống liên đới với mọi người để xây dựng Hội thánh nên Đền thờ Chúa Thánh Thần.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5).
  • Số 46 - 48.                                                                          
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Chọn trong tập  Sinh hoạt Giáo Lý cấp II.
2. Thực hành: Em sống ngoan để gia đình em trở thành tế bào sống động của Hội Thánh.
3. Bài làm ở nhà: Em tự vẽ một biểu tượng về sự sống và tính hiệp nhất của Hội thánh.
V. KẾT THÚC:
Các em mến, Chúa đã thương gọi các em vào Hội thánh của Người và không ngừng ban mọi ơn lành cho các em. Giờ đây, Chúa lại cho các em được ngồi bên nhau để học hỏi giáo lý, ngõ hầu các em được hiểu và yêu mến Chúa cùng với Hội thánh của Người hơn. Vậy, để kết thúc giờ học này, qua kinh Sáng Danh, các em hãy cùng anh (chị) dâng lời tạ ơn Chúa, và xin Người giúp các em sống xứng đáng là Đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Kinh Sáng Danh...
……………………………………
 
Bài 12: ĐẶC TÍNH CỦA HỘI THÁNH 
 
Lời  Chúa   :    “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).
Ý chính   : 1. Đặc tính duy nhất (Mt 16,18).
                   2. Đặc tính thánh thiện (Ep 5,25-27).
                   3. Đặc tính công giáo (Ga 10,14-16).
                   4. Đặc tính tông truyền (Ep 2,19-22).
Tâm tình  : Tạ ơn Chúa đã cho chúng con sống trong gia đình Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.
Chuẩn bị: - Ảnh các thánh Tử đạo Việt Nam.  -   Ảnh Đức Giáo Hoàng.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Các em thân mến, hôm nay, chúng ta được học về Hội thánh như là một cộng đồng có 4 dấu chỉ đặc biệt mà mỗi Chúa nhật, trong Thánh lễ, chúng ta thường tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta trở nên những người con ngoan trong gia đình Hội thánh.
3. Dẫn vào bài mới: Chúng ta được Lời Chúa cho biết Chúa Giêsu đã thiết lập Hội thánh, Vậy Hội thánh của Chúa Giêsu có những đặc tính nào? Hy vọng qua bài học hôm nay chúng ta sẽ biết và góp phần làm sáng tỏ những đặc tính ấy
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Kiêu căng vì tầm vóc to lớn của mình, chú voi đi nghênh ngang trong rừng và quát nạt đàn kiến: “Tại sao chúng mày dám bò ngang đường đi của tao”? Voi giơ bàn chân to khỏe định giẫm nát đàn kiến, nhưng kiến nhanh nhẹn tản ra rồi leo lên voi. Con chui vào mắt voi mà đái, con chui vào tai voi mà đục, con rúc vào mũi mà cắn khiến voi kêu khóc ầm ĩ. Đàn kiến nhỏ bé đã hợp nhau dạy cho chú voi 1 bài học nhớ đời
Một quốc gia muốn vững mạnh thì mọi người trong quốc gia ấy phải hiệp nhất với nhau. Chúa Giêsu muốn nhân lọai đừng chia rẽ nhưng biết kết hiệp như Ba Ngôi Thiên Chúa đã kết hợp cùng nhau. Đây chính là điều mà Lời Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay. Mời các em đọc Mt 16,18 - Mời đứng.
  1. Công bố Lời Chúa: Mt 16,18
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
 
 
 
 
 
2Cr 5, 19
 
 
Rm 12,5
 
 
Mt 16,18
 
 
Ep 4, 5
 
Rm 12,5
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ga 17,21
1. Đặc tính duy nhất.
a) Những lý do làm nên tính duy nhất của Hội thánh:
- Do nguồn gốc:
  • Hội thánh bắt nguồn từ đâu? Từ Chúa Ba Ngôi. Chính Chúa Ba Ngôi làm khuôn mẫu cho sự hiệp nhất trong Hội thánh.
  • Thiên Chúa muốn qui tụ tất cả những ai tin kính Người thành một dân tộc, một dân riêng của Người, vì chỉ có một Thiên Chúa là Cha.
  • Hội thánh do ai thiết lập? Do Đức Ki tô, bằng cái chết và sự sống lại để hòa giải nhân loại với Thiên Chúa Cha và để nhân loại hiệp lại thành một thân thể của Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần.
  • Hội thánh được kiện toàn nhờ sức mạnh thánh hóa của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần liên kết, thực hiện sự hiệp thông lạ lùng này giữa các tín hữu và làm cho họ “nên một trong Chúa Kitô”
- Do việc thiết lập:
  • Chúa Giêsu chỉ thiết lập một Hội thánh trên nền tảng nào? Phêrô và các tông đồ. Đó là nguyên lý và nền tảng vĩnh viễn, hữu hình cho sự hiệp nhất trong Hội Thánh
  • Ai là người kế vị các Tông đồ? các Giám mục kế vị Tông đồ và củng cố Hội thánh
  • Hội thánh có những đặc tính nào? Có bốn đặc tính là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền
- Do tuyên xưng một Đức tin:
  • Vì sao Thánh Phao lô kêu gọi chúng ta sống hiệp nhất? Vì “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa”
  • Phép Rửa tội liên kết mọi người với Chúa Giêsu và với nhau
  • Hội thánh cùng chung việc phụng thờ Thiên Chúa
  • Hội thánh biểu lộ niềm tin duy nhất khi mọi tín hữu trên hoàn cầu đều đọc kinh Tin Kính, cùng chia sẻ một tấm bánh...
  • Như vậy, sự duy nhất của Hội thánh được nhận biết do việc tuyên xưng Đức tin
Tóm lại, Hội thánh duy nhất nhờ ba mối liên kết: “Cùng tuyên xưng một đức tin, cùng chung việc thờ phượng Thiên Chúa, và hiệp nhất huynh đệ trong gia đình Thiên Chúa (Sắc lệnh Hiệp nhất số 2).
b) Sống hiệp nhất:
  • Chúa Giêsu quan tâm cầu nguyện cho sự hiệp nhất của Hội thánh thế nào? Người cầu xin “cho tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”
  • Công đồng Vaticanô II mời gọi mỗi người phải: “lưu tâm tái lập hiệp nhất, tùy theo sức riêng của mình” (SLHN số 5). Vậy ta phải làm gì để bảo vệ sự hiệp nhất và tiến tới sự hiệp nhất Hội thánh? 
  • Canh tân đời sống, luôn trung thành với Hội thánh.
  • Hoán cải tâm hồn.
  • Hiệp nhất trong lời cầu nguyện, tham dự cách tích cực và sinh động các giờ cầu nguyện chung giáo xứ.
  • Hiệp thông trong tình bác ái huynh đệ: yêu thương, giúp đỡ nhau.
  • Trong tình liên đới xây dựng giáo xứ: tham gia các sinh hoạt giáo xứ, giáo phận để tô điểm khuôn mặt giáo xứ thêm tươi đẹp, thánh thiện. Xây dựng Giáo xứ tốt đẹp, là góp phần xây dựng giáo phận và Hội thánh.
 
 
 
 
 
 
Hội thánh Công giáo có bốn đặc tính này là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền. (49)
 
 
 
 
 
Ta tuyên xưng Hội thánh là duy nhất vì Chúa Ki-tô chỉ thiết lập một Hội thánh và Hội thánh chỉ có một Chúa, chỉ tuyên xưng một Đức tin, sinh ra từ một Phép Rửa, làm thành một thân thể, được sống nhờ một Thần Khí và hướng về một niềm hy vọng. (50)
 
 
 
Ep 5,25-27
 
 
 
 
 
 
 
Lv 11,44-45;  Mt 5,48
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mt 13,20-30
 
 
 
 Kn 7,14
2. Đặc tính thánh thiện.
  • Thư Ep 5,25-27 giúp ta xác tín điều gì? Chính Chúa Giêsu là Đấng đã yêu thương thiết lập và làm cho Hội thánh được thanh tẩy bằng chính Máu, Nước và Lời hằng sống để trở nên thánh thiện.
  • Thánh Phaolô diễn tả sự thánh thiện của Hội thánh qua những từ ngữ nào? Xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn, không có khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền.
  1. Những lý do làm nên tính thánh thiện của Hội thánh
  • Hội thánh mang đặc tính thánh thiện vì Hội thánh được liên kết với chính Thiên Chúa là Đấng Thánh, như lời tung hô kết thúc kinh tiền tụng: “Thánh, thánh, thánh”
  • Hội thánh là thánh vì Hội thánh do Chúa Giêsu là Đấng Thánh thiết lập. Vì thế, Hội thánh trở nên thánh thiện nhờ sự hánh hóa của Chúa Giêsu. Ngài mời gọi: “các ngươi hãy nên thánh vì Ta là Đấng Thánh”
  • Mục đích của Chúa Giêsu khi thiết lập Hội thánh là muốn cho mọi người được cứu rỗi được thánh hóa, được cùng gọi Thiên Chúa là Cha và cùng ca khen chúc tụng Thiên Chúa.
  • Hội thánh là Bí tích cứu rỗi (HcHT). Hội thánh đã dùng các phương thế trong kho tàng Lời Chúa, cử hành các nghi thức Phụng vụ, cử hành các Bí tích nhằm phát triển những hoa trái thánh thiện, sinh ơn ích cho mọi tín hữu.
  • Hội thánh luôn phát sinh những hoa trái thánh thiện và tinh tuyền. Đức Trinh Nữ Maria, các Thánh là những thành phần ưu tuyển của Hội thánh.
b) Thực tế của Hội thánh lữ hành: luôn phải thanh tẩy.
  • Sự thánh thiện của  Hội thánh chưa đạt được trọn vẹn vì:
  • Hội thánh vẫn gồm cả những người thánh thiện và kẻ tội lỗi, người lành và kẻ dữ
  • Hội thánh luôn kêu gọi con cái thanh tẩy không ngừng cho đến ngày tận thế
  • Dầu vậy, Hội thánh vẫn luôn luôn thánh thiện nhờ sức mạnh và các phương tiện thánh hóa của Chúa Giêsu qua Lời Chúa và các Bí tích. Sự cố gắng không ngừng để đạt tới sự thánh thiện làm phát sinh những “Vị Thánh” là những người đã từ “Gian khổ” để đạt đến vinh quang, là những Đấng đã sống bác ái tuyệt vời
  1. Những mẫu gương sống thánh:
  • Các Thánh là những Đấng đã yêu Chúa hết lòng và yêu tha nhân như chính mình, đã thực hiện nhân đức cách anh hùng để nêu gương cho chúng ta sống trung thành với Chúa (x. HcHT số 48-51).
  • Nơi Đức Maria, Hội thánh đạt đến sự thánh thiện tuyệt hảo. Sự thánh thiện tuyệt hảo của Mẹ là niềm vinh dự cho Hội thánh và làm cho Hội thánh ngày càng thêm lộng lẫy, vinh quang, vì Mẹ đã là phần tử của Hội thánh (x. Hc.HT chương 8).
  • Sống trong Hội thánh thánh thiện, chúng ta cần làm gì?
  • Hãy ngước nhìn lên Đức Mẹ, các bậc tiền nhân thánh thiện, và quyết chí noi gương các Ngài, luyện tập nhân đức để nên thánh
  • Luôn cầu xin Chúa giúp ta sống thánh thiện
  • Quyết tâm sống tốt
 
 
 
Ta tuyên xưng Hội thánh là thánh thiện vì:
 
 
Một là bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng Chí Thánh.
 
 
 
 
 
 
 
 
Hai là được Chúa Ki-tô thánh hoá bằng Lời Chúa và các Bí tích.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ba là được Chúa Thánh Thần làm cho sống động và phát sinh nhiều hoa trái thánh thiện. (51)
 
 
TIẾT 2: Tin mừng Mt 16,18 giúp ta xác tín: Hội thánh là cộng đoàn duy nhất mà Chúa Kitô đã thiết lập với bốn đặc tính: Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền. Giờ đây, ta tìm hiểu về đặc tính thứ ba của Hội thánh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mt 13,31-32; Mt 13,33; Mt 13,47-50; Lc 10,29-37
 Mt 28,19; Ga 10,14-16
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ga 10,16
 
Ga 4,7-42
 
Lc 10,29
 
Mt 28,19
 
 
3. Đặc tính công giáo.
a) Công giáo, đặc tính thứ ba của Hội thánh:
  • Trong đêm Giáng sinh, Boca đến thăm Chúa Hài Đồng trong máng cỏ. Thấy Hài Nhi có màu da trắng, cậu lấy lọ nghẹ xoa khắp mặt và tay của Chúa Hài Đồng để Ngài cũng có làn da màu đen như cậu. Các em thân mến, cậu bé Boca làm thế vì cậu chưa hiểu công giáo là gì?
  • Xét về từ ngữ: Công là chung; Giáo là đạo. Vậy Công giáo là đạo chung cho mọi người.
  • Từ ngữ “Công giáo” đã được thánh Ignatiô (khoảng năm 110) sử dụng lần đầu tiên trong thư gửi cho Giáo đoàn Smyrna để chỉ Hội thánh Chúa Kitô.
  • Kinh Tin Kính các thánh tông đồ nói đến: “Hội thánh hằng có ở khắp thế này”.
  • Tin mừng dùng dụ ngôn nào để nói về tính cách phổ quát của đạo Công giáo? Hạt cải, men trong bột, lưới cá, dụ ngôn người Samaritanô….
  • Lệnh truyền: “Hãy đi khắp thế gian loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ sinh” và Tin mừng Ga 10,14-16 cho ta biết thêm điều gì? Chúa của tất cả mọi người.
  • Vậy, đạo Công giáo có tính cách phổ quát, tức là mở rộng cho mọi người, mọi dân tộc, mọi thời đại.
b) Những lý do làm nên tính “Công giáo” của Hội thánh: Có 2 lý do chính yếu là đời sống Đức tin + Bí tích và sự rao giảng Tin mừng
- Đời sống Đức tin và Bí tích:
  • Ta lãnh nhận đức tin khi nào? Khi lãnh Bí tích Rửa tội
  • Đức tin mang lại gì cho ta? Sự sống đời đời.
Nhờ Đức tin, chúng ta mới biết tham dự sống động vào đời sống Bí tích mà Chúa Giêsu đã lập và trao cho Hội thánh cử hành. Vậy, Đức tin và Bí tích là phương thế rất kỳ diệu để thánh hóa, phát sinh, làm tăng trưởng sự sống thiêng liêng của chúng ta. Đó là những phương tiện Chúa thành lập để ban ơn cứu rỗi cho mọi người.
- Rao giảng Tin mừng là sứ mệnh “Phổ quát” của Hội thánh:
  • Theo Ga 10,16 thì hoài vọng của Chúa Giêsu là gì: “chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”.
  • Lúc sinh thời, Chúa Giêsu đã biểu lộ ý định này thế nào?
  • Khi gặp người đàn bà bên bờ giếng Giacóp, Chúa cho bà nhận ra Chúa là Đấng Cứu độ và bảo bà hãy đi vào thành loan báo cho mọi người khác
  • Khi dạy về Đức ái, Chúa Giêsu đề cao một người Samaritanô nhân hậu
  • Phát xuất từ lệnh truyền: “Hãy đi loan báo Tin mừng khắp thế gian” và vì sứ mệnh “phổ quát” tức là tính “Công giáo” của mình, Hội thánh phải loan báo Tin mừng Chúa Kitô cho mọi dân tộc: “Hội thánh lữ hành, tự bản chất là truyền giáo” (Sl TG 2).
c) Hội thánh của mọi dân tộc (sứ mệnh Công giáo):
  • Sau Công đồng Vaticanô II, Hội thánh đã thích nghi rất nhiều với truyền thống văn hóa các dân tộc để Tin mừng đến được với mọi nền văn hóa, mọi tầng lớp xã hội. Hội thánh làm thế vì Hội thánh là của mọi dân tộc. Hội thánh cần làm thế để các dân tộc đều cảm thấy Hội thánh là nhà của mình, và do đó nói lên được tính “Công giáo” của Hội thánh.
  • Sứ mệnh của người Kitô hữu là gì? Là đưa Hội thánh vào mọi quốc gia, mọi nền văn hóa bằng cách:
  • Diễn tả các khía cạnh của đặc tính Công giáo ngay trong cuộc sống này.
  • Phải làm thế nào để Hội thánh Công giáo không phải là một cộng đoàn khép kín nhưng mở rộng, đi tới và đón nhận, thâu nạp tất cả mọi người không phân biệt.
  • Làm cho Hội thánh hiệp nhất, là niềm hy vọng và cứu độ cho tất cả nhân loại.
 
 
 
Ta tuyên xưng Hội thánh là Công giáo vì:
 
 
Một là toàn bộ chân lý đức tin đã được ủy thác cho Hội thánh gìn giữ và loan truyền.
 
 
 
Hai là nhờ sự hiện diện của Chúa Ki-tô, Hội thánh mang trong mình đầy đủ các phương tiện cứu độ.
 
 
 
 
Ba là Hội thánh được sai đến với mọi dân tộc thuộc mọi thời đại. (52)
 
 
 
Mc 1,16-20
 
 
 Mt 28,16
 
 
 
Ep 2,19-22
 
 
 
 
Cv 6,6
4. Đặc tính tông truyền.
a) Lý do làm nên tính “Tông truyền” của Hội thánh:
  • Theo Tin mừng Macco, Chúa Giê su đã làm gì ngay sau khi chịu phép rửa và chiến thắng cám dỗ? Ngài chọn gọi các môn đệ
  • Chúa Giê su chọn gọi các môn đệ để làm gì? Để họ ở với Người, nghe Người giảng dạy, chứng kiến các phép lạ, chứng kiến cuộc Tử nạn Phục sinh và được Người sai đi thiết lập Hội thánh
  • Trước khi về trời, Chúa Giêsu trao cho ai coi sóc Hội Thánh? Phêrô
  • Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết điều gì qua Ep 2,19-22?  Chúng ta thuộc về gia đình Thiên Chúa, tức là Hội thánh, được xây dựng trên nền móng vững chắc là các tông đồ, và các tiên tri mà viên đá tảng chính là Chúa Giêsu, đầu Hội thánh.
b) Các Tông đồ truyền lại:
  • Trách nhiệm riêng mà Chúa Giêsu trao cho Phêrô đã được trao lại cho các Đấng kế vị và tồn tại mãi đến tận thế. Trách nhiệm ấy chăn dắt được ai tiếp nối?  do chính những người mà các tông đồ đặt tay tuyển chọn
  • Tại sao Hội thánh là Tông truyền? Vì Hội thánh do các Tông đồ truyền lại. Nhờ Thánh Thần soi sáng, Hội thánh truyền lại nguyên vẹn kho tàng đức tin và lời giảng dạy lành thánh từ thời các tông đồ. Chữ “tông truyền” còn nói lên ý nghĩa trung thành với các tông đồ.
c) Tính Tông truyền được thể hiện qua phẩm trật:
  • Nhìn vào Hội thánh Công giáo, ta thấy đúng thực là Hội thánh Tông truyền, vì từ Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng đầu tiên, đến Đức Bênêdictô hiện nay, là một chuỗi nối tiếp không gián đoạn. Đức Giáo Hoàng (cũng gọi là Đức Thánh Cha) là chủ chăn có quyền tối cao trong toàn thể Hội thánh.
  • Cùng hiệp thông và đồng trách nhiệm với Đức Giáo Hoàng, có các Giám mục, là những người kế vị các tông đồ, với sự trợ giúp của các Linh mục, Phó tế phục vụ dân Chúa bằng quyền giảng dạy, thánh hóa để Hội thánh muôn đời vẫn là Hội thánh Duy nhất, Thánh Thiện, Công giáo và Tông truyền. Toàn thể các Đức Giám mục liên kết với Đức Giáo Hoàng và với nhau làm thành Giám mục đoàn (x. Hc.HT 22).
  • Giám mục đoàn có quyền đầy đủ và tối cao trên Hội thánh khi hiệp thông với Đức Giáo Hoàng. Cộng đoàn tính của Hội thánh được biểu lộ rõ nét trong các Công đồng chung, Thượng Hội Đồng Giám mục, Hội Đồng Giám mục Quốc gia...
  • Giáo phận là Hội thánh địa phương do Đức Giám mục coi sóc. Trong mỗi Giáo phận lại có những Linh mục, Phó tế cộng tác với Đức Giám mục coi sóc dân Chúa tại các Giáo xứ và các sinh hoạt khác trong Giáo phận. Đức Giám mục có quyền hành trên Giáo phận mình (x. Hc.HT 23).
  • Chúng ta làm gì để tỏ lòng yêu mến Hội thánh? Hãy luôn vâng nghe lời Hội thánh giảng dạy, vì nghe Hội thánh là nghe chính Chúa Giêsu.
 
 
Ta tuyên xưng Hội thánh là Tông truyền vì:
 
 
Một là Hội thánh được xây trên nền tảng các Tông đồ.
 
 
 
 
Hai là Hội thánh gìn giữ và lưu truyền giáo huấn của các Tông đồ.
 
 
 
Ba là Hội thánh vẫn tiếp tục được giáo huấn, thánh hóa và hướng dẫn bởi các Tông đồ, nhờ các Đấng kế vị là các Giám mục, cho đến ngày Chúa Ki-tô lại đến. (53)
 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thiết lập Hội thánh trên nền tảng các tông đồ và trao cho Hội thánh sứ mệnh đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng. Xin cho con biết hiệp nhất với mọi người trong Hội thánh bằng đời sống thánh thiện để giới thiệu Hội thánh cho thế giới ngày nay.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).
  •     Số 49 – 53
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Băng reo   HỘI THÁNH (trong Sinh hoạt Giáo lý cấp II).
          Người điều khiển             TC
  • Anh chị em ơi                   Ơi
  • Hội Thánh                       Duy nhất (Nắm tay lại, đưa ngón tay cái lên)
  • Hội Thánh                       Thánh thiện (2 tay chắp trước ngực
  • Hội Thánh                       Công giáo (2 người đứng cạnh nhau đổi chỗ cho nhau
  • Hội Thánh                       Tông truyền (Nắm tay nhay giơ lên và hô A! a! a!)
2. Thực hành: Em luôn sống thánh giây phút hiện tại để thể hiện bốn đặc tính của Hội thánh.
3. Bài làm ở nhà: Viết tên 12 vị tông đồ của Chúa Giêsu.
V. KẾT THÚC:
Các em mến, các em đã được ở trong một Hội thánh có 4 đặc tính trổi vượt là: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Vậy các em cùng nhau luôn nhớ cầu xin cho Hội thánh được hợp nhất, hãy cố gắng nên thánh mỗi ngày, và hãy nhiệt tình giúp mọi người được biết và gia nhập Hội thánh Chúa. Giờ đây, các em hãy sốt sắng đọc kinh Sáng Danh để tạ ơn Chúa về giờ học vừa qua, và xin Người giúp các em thực hiện các điều vừa quyết tâm.
Kinh Sáng danh...
 
………………………………………..
 
Bài 13: TỔ CHỨC HỘI THÁNH
 
Lời Chúa: “Người hỏi lần thứ ba: “Này anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giê-su bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,17).
Ý chính   : 1. Hàng giáo phẩm (Ga 21,17).
                   2. Đời thánh hiến (Mc 10,21).
                   3. Giáo dân và sứ mệnh (Ga 10,1-21)
Tâm tình  : Ước ao được sống hạnh phúc trong gia đình Hội thánh.
Chuẩn bị:  Hình Đức Giáo Hoàng, tranh Mục tử nhân lành.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Hội thánh là một cộng đoàn có tổ chức, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi thành phần trong Hội thánh biết nhận ra vai trò và vị trí của mình để tích cực xây dựng Hội thánh như lòng Chúa mong muốn.
3. Giới thiệu bài mới: Trong hai bài trước, chúng ta đã học biết Hội thánh Công giáo có bốn đặc tính là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền.  Trong chương trình cứu độ, Hội thánh vừa là dấu chỉ, vừa là khí cụ của sự hiệp thông với Thiên Chúa, và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại. Hôm nay, chúng ta sẽ học về tổ chức của Hội thánh.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
  • Vào thế kỷ 10 trước Công nguyên (CN), Salômon nổi tiếng về sự khôn ngoan trang cách tổ chức mọi  việc trong đất nước Giuđa đến nỗi tất cả các vua đều tìm đến học hỏi. Trong số này có Nữ hoàng Saba, bà đến tận Giêrusalem tham quan cung điện của vua, xem cách ông xây dựng đền thờ, cách sắp xếp và tổ chức triều thần, hàng ngũ quân hầu và y phục của họ... Bà thốt lên: “Người ta đã không thuật lại được một nửa về sự khôn ngoan lớn lao của Ngài. Ngài trổi vượt xa lời đồn thổi tôi đã nghe” (x. 2 Ks 9,1-12).
  • Còn Hội thánh của Chúa Kitô được tổ chức thế nào? Trước hết, chúng ta lắng nghe thánh Gioan kể lại trong Ga 21,17 về việc Chúa Giêsu, Đấng sáng lập Hội thánh, đặt nền tảng cho việc tổ chức của Hội thánh  - mời đứng.
 
 
B. Công bố Lời Chúa: Ga 21,17   -    thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Chúa Giêsu đã 3 lần hỏi Phê rô:  “Anh có yêu mến Thầy không?” và cũng 3 lần trao cho Phêrô nhiệm vụ đứng đầu Hội thánh. Xin cho chúng ta luôn chu tòa sứ mệnh của mình là tìm kiếm Nước Thiên Chúa và làm việc tông đồ giữa trần gian. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
Ga 21, 1-17
 
 
 
 
Mt 16,18-19
1. Hàng giáo phẩm.
  • Sau một đêm các Tông đồ vất vả chài lưới mà không được gì, Chúa Giêsu Phục sinh đã làm gì cho các ông? Ngài hiện đến, chỉ chỗ cho các ông bắt cá và chiêu đãi các ông cá nướng và bánh ngon.
  • Chúa Giê su mấy lần hỏi Phê rô: “Anh có mến Thầy không?” 3 lần
  • Vậy mấy lần Chúa Giêsu trao cho Phêrô nhiệm vụ đứng đầu Hội thánh: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” cũng 3 lần
  • Trước đó, khi Phêrô tuyên xưng Chúa Kitô là Con Thiên Chúa thì Chúa Giêsu còn nói rõ ý định của Người thế nào? Trên Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, Ngài sẽ xây Hội thánh và đặt ông đứng đầu Hội
  • Như vậy, Chúa Giêsu đã thiết lập một phẩm trật cho các tông đồ, và tiếp tục củng cố nên một phẩm trật như ngày nay.Trong tổ chức của Hội thánh gồm Giáo sĩ (Giám mục, Linh mục, Phó tế), Tu sĩ và Giáo dân.
a) Giám mục đoàn:
  • Khi lập Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu tổ chức các tông đồ này theo cách thức một cộng đoàn, đặt Phêrô làm thủ lãnh. Ngày nay, Đức Giáo Hoàng và các Giám mục cũng làm thành một cộng đoàn duy nhất
  • Đức Giáo Hoàng là ai? Là Đấng Kế vị Thánh Phê-rô, làm Giám mục Rô-ma, là Thủ lãnh Giám mục đoàn, đại diện Chúa Ki-tô và Chủ chăn của Hội thánh toàn cầu.
  • Các Giám mục là ai?  Là những Đấng kế vị các Tông đồ để qui tụ, cai quản Hội thánh địa phương và cùng với Đức Giáo Hoàng làm thành cộng đoàn duy nhất để phục vụ Hội thánh toàn cầu.
b) Hàng giáo sĩ:
Các Giám mục trao trách nhiệm của tác vụ mình, qua Bí tích Truyền chức thánh, cho nhiều phần tử trong Hội thánh theo từng cấp bậc. Đó là các Giám mục, Linh mục và Phó tế:
- Các Linh mục là những người tham dự vào chức Tư tế thừa tác của Giám Mục và chia sẻ sứ mệnh với Người.
- Các Phó tế là những Thừa tác viên được truyền chức thánh để lo các công tác phục vụ trong Hội thánh như Rửa tội, chủ sự nghi lễ an táng, chia sẻ Lời Chúa trong Thánh lễ...
Hội thánh Công giáo gồm có 3 thành phần: Giáo sĩ, Tu sĩ và Giáo dân. (54)
Đức Giáo Hoàng là Đấng Kế vị Thánh Phê-rô, làm Giám mục Rô-ma, là Thủ lãnh Giám mục đoàn, đại diện Chúa Ki-tô và Chủ chăn của Hội thánh toàn cầu. (55)
Các Giám mục là những Đấng kế vị các Tông đồ, để qui tụ, cai quản Hội thánh địa phương và cùng với Đức Giáo Hoàng phục vụ Hội thánh toàn cầu. (56)
Các Linh mục là những người tham dự vào chức Tư tế thừa tác của Giám Mục và chia sẻ sứ mệnh với Người. (57)
Các Phó tế là những Thừa tác viên được truyền chức thánh để lo các công tác phục vụ trong Hội thánh. (58)
 
 
 
Mc 10,17-21 
2. Đời thánh hiến.
  • Một thanh niên giàu có đã tuân giữ từ các giới răn: chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ… từ thuở nhỏ đến hỏi Chúa Giêsu về những việc phải làm để được sự sống đời đời. Người bảo: “Anh chỉ còn thiếu một điều…” Điều ấy là điều gì? Mời các em đọc Mc 10,21  ….
  • Đây cũng chính là điều mà Chúa Giê su mời gọi các tu sĩ.  Không những từ bỏ của cải, sống khó nghèo, người tu sĩ còn tự nguyện sống khiết tịnh, không lập gia đình, và sống tuân phục. Khó nghèo - khiết tịnh và tuân phục là những lời khuyên Phúc Âm đã được một số người tự nguyện khấn hứa chấp nhận để theo Chúa trong một bậc sống cố định được Hội thánh chấp nhận (x. HcHT 43).
  • Như Đức Giê su có lúc cầu nguyện âm thầm, có khi miệt mài rao giảng, có lúc chữa bệnh không ngơi nghỉ thì đời sống thánh hiến cũng phát sinh nhiều lối sống khác nhau như: đời sống ẩn tu (Dòng chiêm niệm) - các trinh nữ - đời sống dòng tu - các tu hội đời - các tu đoàn tông đồ (Dòng hoạt động) v.v...
Các Tu sĩ là những Ki-tô hữu muốn bước theo Chúa Giê-su cách triệt để, nên tự nguyện khấn khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, theo những hình thức đã được Hội thánh phê chuẩn. (59)
 
 
Ga 10,1-21
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mt 5, 13-14
3. Giáo dân và sứ mệnh:
  • Tin mừng theo thánh Gioan chương 10 vẽ nên một bức tranh về một đàn chiên thế nào?
  • Đàn chiên đông đảo do một mục tử nhân lành tận tình chăm sóc
  • Những chiên rải rác được tìm kiếm dẫn về đàn
  • Những chiên ốm đau được chăm sóc chu đáo, những chiên ghẻ lở được chữa trị...
  • Tất cả đàn chiên đều được dẫn đến đồng cỏ non, được ăn no thỏa, được uống thỏa thuê nơi suối trong lành...
  • Bức tranh này (treo tranh, nếu có, và hướng dẫn tiếp) không những nói về Chúa Giêsu Kitô mục tử nhân lành mà còn muốn cho thấy một cộng đoàn đông đảo. Đó là cộng đoàn giáo dân trong Hội thánh của Chúa Kitô. Họ không thuộc thành phần có chức thánh hoặc tu sĩ. Nhờ Bí tích Rửa tội và Thêm sức, người giáo dân được tháp nhập vào Chúa Kitô, trở thành những cành nho trong một thân nho duy nhất, họ được tham dự vào chức năng ngôn sứ, tư tế và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình.
  • Người giáo dân “sống giữa trần gian”, họ được mời gọi trở nên như men trong bột, như muối đất…trong  từng công việc và bổn phận thường ngày trong gia đình, nơi xã hội và họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình” (Hc.HT 31).
  • Sứ mệnh riêng của người giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa và làm việc tông đồ giữa trần gian trong những công việc thế tục (GLV có thể củng cố bằng nhiều thí dụ về những công việc của đời thường).
Giáo dân là các tín hữu không có chức thánh và không ở trong bậc tu trì. Nhờ phép Rửa tội họ được dự phần theo cách của họ vào chức Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Chúa Ki-tô. (60)
 
 
 
Sứ mệnh riêng của người giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa và làm việc tông đồ giữa trần gian trong những công việc thế tục. (61)
 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thiết lập Hội thánh thành một cộng đoàn gồm nhiều thành phần khác nhau. Xin cho từng người ý thức mình là thành phần của Hội thánh để nỗ lực sống đạo và cộng tác với nhau xây dựng Nước Chúa.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • Người hỏi lần thứ ba: “Này anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không”? Ông đáp  “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giê-su bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21,17).
  • Số 54 – 61
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Hát và sinh hoạt giáo lý cấp II.
2. Thực hành: Em siêng năng học tập, vui vẻ giúp đỡ mọi người và làm cho Hội thánh có mặt ở mọi nơi bằng đời sống ngoan hiền của em.
3. Bài làm ở nhà:
V. KẾT THÚC:
GLV nhắc nhở các em cầu nguyện và tạ ơn vì diễm phúc được sống trong Hội thánh có phẩm trật, tổ chức qui củ để dễ dàng sống thánh.
- Kinh Sáng danh...
 
………………………………..
 
Bài 14 : HIỆP THÔNG GIỮA CÁC THÁNH
 
Lời Chúa: “Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ” (Ep 4,15-16).
Ý chính   : 1. Mầu nhiệm hiệp thông (Ep 4,15-16).
                   2. Các tín hữu sống trên trần gian (Cv 2,42-47)
Tâm tình  : Vui sướng và tin tưởng vì được sống trong sự hiệp thông của gia đình Thiên Chúa.
Chuẩn bị: Tranh cộng đoàn giáo xứ.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Lạy Thánh Thần tình yêu, Chúa là dây liên kết mọi tín hữu, là sự hiệp thông trong gia đình Thiên Chúa, xin hãy đến, và mở rộng tâm hồn chúng con đón nhận sự hướng dẫn của Chúa trong giờ giáo lý này (thinh lặng giây lát và cho các em hát kinh Chúa Thánh Thần).
3. Giới thiệu bài mới: Nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu rao giảng, thiết lập không chỉ gồm những người đang sống trên trần gian mà còn bao gồm cả các thánh trên thiên đàng và các linh hồn nơi luyện ngục. Ba thành phần này có liên hệ mật thiết với nhau. Đó là mầu nhiệm Hiệp thông giữa các thánh mà hôm nay chúng ta học hiểu.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Xem chương trình “như chưa hề có cuộc chia ly” trên truyền hình, chúng ta chứng kiến những giọt nước mắt hạnh phúc của những bậc cha mẹ và con cái vì hoàn cảnh cuộc sống hay chiến tranh mà thất lạc, nay tìm lại được nhau.  
Các em thân mến, tất cả chúng ta là một gia đình hạnh phúc. Chúng ta có Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau. Thánh Phaolô diễn tả tình hiệp thông này một cách sâu sắc trong Ep 4,15-16. Mời các em cùng đọc. (Mời đứng)
B. Công bố Lời Chúa: Ep 4,15-16

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
 
 
 
 
 
1 Cr 10,17
 
Ep 4,16
1. Mầu nhiệm hiệp thông.
  • Hội thánh gồm những ai? Nhờ Chúa Kitô, tất cả những ai thuộc về Chúa Ki tô và nhận lãnh Thánh Thần đều họp thành một Hội thánh duy nhất và lien kết với nhau
  • Hội thánh gồm những thành phần nào? Gồm những tín hữu đang sống trên trần thế, các Thánh trên Thiên đàng và các linh hồn đang chịu thanh luyện
  • Thánh Phaolô đã diễn tả tình hiệp thông trong Hội thánh bằng hình ảnh nào? Thân thể
  • Nếu Hội thánh là thân thể thì Chúa Kitô có vai trò nào? Chúa Kitô là Đầu. “Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ”
  • Những người đang sống và những người đã chết có liên hệ vơi nhau không? Có, sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh em đã yên nghỉ trong bình an của Chúa Kitô không hề bị gián đoạn.
  • Như vậy trong cùng Hội thánh duy nhất, các tín hữu đang sống trên trần thế, các thánh trên thiên đàng, các linh hồn đang chịu thanh luyện đều có liên hệ mật thiết với nhau gọi là mầu nhiệm Hiệp thông (cũng quen gọi là mầu nhiệm các Thánh cùng thông công), vì tất cả tín hữu hợp thành một thân thể duy nhất mà Chúa Kitô là đầu. Sự thánh thiện của đầu được thông ban cho các chi thể và sự tốt lành của người này ảnh hưởng đến người kia
Trong Hội thánh, các tín hữu hiệp thông với nhau vì tất cả các tín hữu hợp thành một Thân thể duy nhất mà Chúa Ki-tô là Đầu. Sự thánh thiện của Đầu được thông ban cho các chi thể và sự tốt lành của người này ảnh hưởng đến người kia. (62)
 
Các tín hữu còn sống trên trần gian, các linh hồn trong luyện ngục và các thánh trên trời chia sẻ cho nhau những ơn ích thiêng liêng. (63)
 
 
Cv 2,42-47
 
 
 
 
1 Cr 12, 7
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
2 Mcb 12,38-45
 
 
 
 
 
 
2 Mac 12,46
2. Sự hiệp thông giữa các thành phần trong Hội thánh.
a) Các tín hữu sống trên trần gian hiệp thông với nhau.
  • Cộng đoàn tín hữu tại Giêrusalem thời các tông đồ đã thể hiện tình hiệp thông thế nào? Mời các em đọc Cv 2,42-47
  • Hiệp thông trong đức tin: chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy
  • Hiệp thông trong đức ái: để mọi sự làm của chung, tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu, không ai thiếu thốn gì
  • Hiệp thông trong ân sủng: siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.
  • Hiệp thông các ơn huệ Thánh Thần để xây dựng ích chung
  • Tóm lại, các tín hữu còn ở trần gian hiệp thông với nhau trong đức tin, đức ái, kinh nguyện, các Bí tích và các đoàn sủng; đồng thời cũng chia sẻ cả của cải vật chất với nhau trong tinh thần liên đới và tương trợ.
b) Hiệp thông với các thánh trên trời. (x. Hc.HT số 49):
  • Người Kitô hữu thường có thói quen đi viếng hoặc xin khấn Giuse, thánh Mactinô, thánh Phêrô…để tạ ơn hoặc xin các thánh cầu bầu cho chúng ta trước tòa Chúa. Chúng ta cầu nguyện với các Thánh vì trước nhan Chúa, nhờ được kết hợp mật thiết với Chúa Kitô hơn, các Thánh ở trên trời củng cố toàn thể Hội thánh vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng của Hội thánh tại thế được cao cả hơn với tình huynh đệ, các Thánh lo lắng giúp đỡ chúng ta rất nhiều để với ơn Chúa, chúng ta có thể vượt thắng cơn cám dỗ, những thử thách mà trung thành với đức tin.
  • Hơn nữa, sự hiệp thông với các Thánh mời gọi ta noi gương, bắt chước đời sống mẫu mực của các ngài; đồng thời chúng ta cũng biết con đường chắc chắn nhất giúp chúng ta đạt tới sự thánh thiện là kết hợp hoàn toàn với Chúa Kitô.
Tóm lại, chúng ta noi gương đời sống thánh thiện của các Thánh và xin các ngài phù giúp; còn các Thánh thì chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta.
c) Hiệp thông với các linh hồn trong luyện ngục.
  • Sách Mac-ca-bê-ô đã kể một câu chuyện về tình hiệp thông giữa người còn sống trên dương thế và các người đã chết: Trong trận chiến đấu với đạo quân I-du-mê-a do tướng Gorgias chỉ huy, đã có nhiều người Do thái chết. Khi đi lượm xác để chôn cất, người ta thấy dưới áo lót của những người chết có đồ cúng cho tượng thần Xam-ni-a. Mọi người liền cầu nguyện xin Chúa tha thứ tội phạm đó. Vị anh hùng Giu-đa tổ chức lạc quyên gửi về Giêrusalem 2000 quan tiền để dâng lễ đền tội
  • Việc làm này của cộng đoàn Do thái và của ông Giu-đa được đánh giá cao, biểu lộ không những niềm tin vào sự sống lại mà còn đề cao tình hiệp thông giữa người sống với những người đã chết, vì “cầu nguyện cho người chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh”
  • Hội thánh luôn nhắc nhở chúng ta biểu lộ tình hiệp thông bằng cách nào? Bằng những hy sinh, những việc lành, nhất là bằng việc dâng thánh lễ cầu nguyện.
  • Ta thường cầu nguyện cho người đã khuất trong những dịp nào? Dịp an táng, giỗ, lễ các Đẳng, và tháng các Đẳng
  • Việc cầu nguyện của ta giúp gì cho người đã khuất? Giúp người đã chết được giải thoát khỏi sự thanh luyện vì thời gian lập công của các ngài đã chấm dứt, giờ đây các ngài trông chờ lời cầu nguyện, hy sinh của chúng ta
  • Phần chúng ta, khi cầu nguyện cho người đã chết, chúng ta cũng được hưởng nhờ lời chuyển cầu của các ngài.
Các tín hữu còn ở trần gian cùng hiệp thông trong đức tin, đức ái, kinh nguyện, các Bí tích và các đoàn sủng ; đồng thời cũng chia sẻ cả của cải vật chất với nhau trong tinh thần liên đới và tương trợ. (64)
 
 
 
 
Hiệp thông với các Thánh trên trời, chúng ta noi gương đời sống thánh thiện của các Thánh và xin các ngài phù giúp; còn các Thánh thì chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta. (65)
 
 
 
 
 
 
 
Hiệp thông với các linh hồn trong luyện ngục, chúng ta dâng việc lành phúc đức cầu nguyện cho các linh hồn ấy sớm được giải thoát và chính chúng ta cũng được hưởng nhờ lời chuyển cầu của các ngài. (66)
 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa, nhờ cái chết sinh ơn cứu độ của Con Một Chúa, chúng con được hiệp thông với nhau giữa những kẻ tin Chúa. Xin cho chúng con hiệp thông với các thánh trên trời để ca tụng Chúa, xin giúp chúng con biết dâng mọi việc lành phúc đức cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội, và xin nhắc nhở chúng con cầu nguyện cho nhau hằng ngày.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ” (Ep 4,15-16)
  • Số 62 – 66
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập sinh hoạt và hát giáo lý cấp II.
2. Thực hành: Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu rất yêu mến các linh hồn đang chịu thanh luyện bằng cách dâng nhiều hy sinh cầu nguyện cho các linh hồn ấy. Lần kia ngồi bên một chị bạn giặt đồ, chị bạn vô tình vò quần áo làm bắn bọt xà bông sang Têrêsa. Không tránh né, chị Têrêsa xích lại gần hơn, chấp nhận hy sinh để cầu cho các linh hồn. Noi gương chị thánh Têrêsa, em vui chịu những hy sinh để cầu nguyện cho các linh hồn.
3. Bài làm ở nhà: Tìm đọc tiểu sử một vị thánh mà em yêu mến, và ghi lại vắn gọn trên tập bài làm.
V. KẾT THÚC.
 
……………………………………..
 
Bài 15 : ĐỨC MA-RI-A , MẸ CHÚA GIÊ-SU VÀ MẸ HỘI THÁNH
 
Lời Chúa: “Sứ thần vào nhà Trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà” (Lc 1,28).
Ý chính   : 1. Những đặc ân của Mẹ Maria (Lc 1,26-31.38).
                   2. Vị trí của Mẹ Maria trong công trình cứu độ và trong Hội thánh (Lc 1,39-40.46-49).
                   3. Lòng tôn kính đối với Đức Mẹ (Lc 11,27-28).
Tâm tình  : Cảm tạ Thiên Chúa và vui mừng vì ta có người Mẹ tuyệt vời là Đức Maria.
Chuẩn bị: Tranh ảnh về Đức Mẹ.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Để thực hiện Ơn Cứu Độ, Thiên Chúa đã tuyển chọn Đức Maria và ban cho Mẹ những đặc ân cao cả, để Mẹ trở thành Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ Hội thánh. Xin cho mỗi người chúng ta biết sống Lời Chúa theo gương Mẹ Maria.
3. Giới thiệu bài mới:Trong mầu nhiệm Hiệp thông, chúng ta thấy nổi bật một chi thể tuyệt vời của Hội thánh là Đức Trinh Nữ Maria. Hôm nay, chúng ta dành những giờ phút này để chiêm ngưỡng giá trị của lời thưa xin vâng và quyền năng Thánh thần thể hiện trong cuộc đời Mẹ Maria.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Truyện xưa kể rằng Et-te, cháu của ông Mac-đô-kê, được chọn vào cung phi của As-xu-ê-rô, vua Ai cập. Et-te đã được vua sủng ái, đội vương miện lên đầu và tôn làm hoàng hậu.
Thiên Chúa chọn Đức Maria làm Mẹ Đấng Cứu thế, làm Nữ Vương thiên đàng vậy Ngài có dành cho Mẹ những đặc ân nào không? Mời các em đọc Lc 1,26-31.38
B. Công bố Lời Chúa:
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca
“Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc nhà Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà Trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà”. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su... Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi”.
Sau khi nghe Lời Chúa, thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Qua lời chào của sứ thần Gabriel, chúng ta khám phá ra những hồng ân đặc biệt mà Thiên Chúa dành cho Mẹ. Xin cho chúng biết tôn kính, mến yêu, trông cậy, cầu xin và bắt chước các nhân đức của Mẹ mà luôn sống đẹp lòng Chúa. (Mời ngồi)
 
C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
Lc 1,26-31.38
 
Lc 1,42.48
 
Ep 1,3-4
 
 
 
 
Lc 1,28
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lc 1, 31
 
Hs 11,9; Pl 2,6
 
 
 
 
 
 
Lc 1,35
Mt 1,20
 
Is 7,11
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
St 2,17
Rm 5,12
1. Những đặc ân của Mẹ.
  • Sứ thần Gabriel chào Đức Mẹ thế nào? “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng. Đức Chúa ở cùng bà”.
  • Qua lời chào ấy chúng ta khám phá ra những hồng Thiên Chúa dành cho Mẹ. Hồng ân ấy là gì? “được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ”
  1. Ơn vô nhiễm nguyên tội
  • Thánh Phao lô ca ngợi Mẹ Maria thế nào? Hơn bất cứ tạo vật nào khác, Mẹ Maria đã được Chúa Cha“chúc phúc bằng tất cả mọi thứ phúc lành thiêng liêng trên trời, trong Chúa Kitô”. “Thiên Chúa đã kén chọn Mẹ để là người thánh thiện và vô nhiễm trước mặt Người
  • Với đặc ân vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Maria có được ân sủng nào?
  • Mẹ được Thiên Chúa đổ “đầy ân sủng” thì đã được cứu chuộc từ khi được thụ thai trong lòng bà Anna.
  • Với sự thánh thiện tuyệt vời, Mẹ không mắc tội tổ tông, là tội mà Adam – E và đã phạm khi bất tuân lệnh Chúa, không vương tội như chúng ta.
  • Đó là điều được tuyên xưng bởi tín điều Vô nhiễm nguyên tội do Đức Piô X tuyên bố năm 1854: “Đức Trinh Nữ diễm phúc Maria đã được đề phòng không bị một chút dơ nhớp nào của tội nguyên tổ” (Dz 2803).
  • Giáo hội mừng kính lễ Mẹ Vô Nhiễm vào ngày nào? Ngày 8/12 hàng năm
b) Ơn làm Mẹ Thiên Chúa:
  • Sau lời chào “Đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28), Sứ thần loan báo điều gì? Loan báo mầu nhiệm cứu chuộc và mời gọi Mẹ cộng tác: “Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu.
  • Mẹ Maria đáp lại lời sứ thần thế nào? Với lòng đầy tín thác, Mẹ đã thưa “xin vâng”. Từ khi lời xin vâng vang lên trước sứ thần, Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa
  • Kinh thánh nói gì về Người Con mà Mẹ sinh ra? Người là “Đấng Thánh”, là “Con Thiên Chúa”. “Đấng Thánh” là Thiên Chúa. “Con Thiên Chúa” cũng là Thiên Chúa.
  • Như vậy Mẹ Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa. Công Đồng Êphêsô năm 431 đã tuyên bố tín điều này (x. Dz 251).
  • Giáo hội mừng kính lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày nào? Ngày 1/1 hàng năm
c) Ơn Đồng trinh trọn đời:
  • Đâu là những hồng ân đặc biệt của Mẹ Maria trong việc sinh con?
  • Mẹ thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, nghĩa là Mẹ đồng trinh “Thánh Thần sẽ ngự trên bà”
  • Thiên thần đã khẳng định với ông Giuse: “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”.
  • Sự việc này còn là một ứng nghiệm, một thực hiện lời Thiên Chúa đã hứa “Này đây một Trinh nữ sẽ thụ thai và sẽ sinh hạ một con trai”.
  • Chúa Giêsu là con duy nhất của Mẹ Maria, Mẹ không sinh một người con nào khác nữa nên phụng vụ tôn xưng Mẹ Maria là “Đấng trọn đời đồng trinh” (Hc.HT 52).
  • Công đồng Vat. II năm 1962-1965 đã tuyên xưng: “Mẹ Thiên Chúa đã vui mừng giới thiệu với các mục đồng và các nhà bác học đứa con đầu lòng của mình, mà khi sinh ra đời không làm giảm bớt nhưng còn thánh hiến sự tinh khiết toàn vẹn của Người” (Hc.HT 57).
d) Ơn hồn xác lên trời:
  • Sau khi sống lại, Chúa Giêsu ở với môn đệ khoảng 40 ngày rồi Người đi đâu? Người về trời (thăng thiên)
  • Sau khi chết, thân xác loài người chúng ta sẽ thế nào? Trở về bụi đất.
  • Con người phải chết doAđam - Evà phạm tội. Nay nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, do quyền năng của Chúa Thánh Thần, Mẹ được ơn vô nhiễm nguyên tội. Vậy thân xác Đức Mariasẽ thế nào? Mẹ được đưa về trời cả hồn và xác.
  • Được lên trời cả hồn lẫn xác, Đức Maria giữ vai trò gì trên Thiên đàng?
  • Mẹ trở thành “Mẹ kẻ sống” (thánh Epiphaniô x. HcHT 56).
  • Mẹ tham dự vào sự phục sinh của Con mình và thực hiện trước việc sống lại của các Kitô hữu khác: “Bởi Evà, đã có sự chết, thì nhờ Maria, lại được sống” (thánh Hiêrônimô x. Hc.HT 56)
  • Đức Thánh Cha Piô 12 đã công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời ngày 1.11.1950 (x. Dz 2333 và Hc.HT 59).
  • Giáo hội mừng kính lễ Đức Maria hồn xác lên trời vào ngày nào? Ngày 15/8hàng năm
 
 
Thiên Chúa đã ban cho Đức Ma-ri-a những đặc ân này:
 
- Một là ơn Vô nhiễm Nguyên tội.
 
 
 
 
 
- Hai    là ơn làm Mẹ Thiên Chúa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
- Ba       là ơn Đồng Trinh trọn đời.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
-Bốn là ơn Hồn Xác lên Trời. (67)
 
 
 
 
 
Lc 1, 39-40.46-49
Lc 1,34.38 Mt 12,46-50
 
Lc 2,1-14
Mt 2,13-23
 Lc 2,41-50 Ga 2,1-12
 Ga 19,25-27
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ga 19,26
Cv 1,14
 
Lc 1,38
Lc 2,19.51 Lc 8,21 ; 11,28
2. Vị trí của Mẹ Maria trong công trình cứu độ và trong Hội thánh.
a) Vị trí của Mẹ trong công trình cứu độ:
- Đức Maria sống đức tin tuyệt vời thế nào?
  • Mẹ là phận nữ tỳ hèn mọn nhưng đã được Thiên Chúa đoái thương. Mẹ“xin vâng” trong chương trình cứu độ
  • Mẹ đã cưu mang Chúa Kitô trong tâm hồn trước khi cưu mang trong thân xác
  • Mẹ trở về nguyên quán Belem và sinh hạ Chúa Giêsu nơi hang súc vật
  • Mẹ đưa Hài Nhi trốn sang Ai cập, rồi từ Ai cập trở lại đất Israel
  • Mẹ đau xót khi lạc mất con
  • Mẹ luôn liên kết với Chúa Giêsu trong cuộc đời công khai của Chúa
  • Mẹ đã đứng dưới chân thánh giá
- Như vậy, Mẹ Maria có vị trí nào trong công trình cứu độ? Trong từng ngày sống, từng biến cố cuộc đời của Con mình, Mẹ Maria luôn kết hợp mật thiết và cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng cứu thế nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Mẹ thật là Mẹ Đấng cứu thế, là cộng tác viên quảng đại cách đặc biệt hơn mọi người khác, và là tôi tớ khiêm hạ của Thiên Chúa (x. Hc.HT 61).
b) Vị trí của Mẹ Maria trong Hội thánh:
- Mẹ Maria có vị trí nào trong mầu nhiệm Hội thánh?
  • Mẹ cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi vì Mẹ cũng thuộc dòng dõi Ađam.
  • Mẹ được chào kính như chi thể cao cả nhất của Hội thánh, như mẫu mực và gương sáng phi thường trên phương diện đức tin và đức ái
  • Mẹ đã sinh ra Chúa Kitô là Đầu nên Mẹ cũng sinh ra toàn thân là Hội thánh, nghĩa là trên bình diện ân sủng, Đức Maria thật là mẹ chúng ta.
  • Mẹ đã được Chúa Giêsu trối lại cho Gioan. Mẹ đã hiện diện với Hội thánh ngay từ những ngày đầu sau khi Chúa về trời và Mẹ vẫn hằng chăm sóc Hội thánh và các tín hữu trong Hội thánh bằng những lời chuyển cầu liên tiếp của Mẹ.
  • Mẹ là mẫu gương sáng ngời cho Hội thánh bằng thái độ “xin vâng”; thái độ “ghi nhớ và suy niệm trong lòng”; thái độ “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”.
  • Tóm lại, Đức Ma-ri-a là chi thể trổi vượt và là gương mẫu sáng ngời của Hội thánh, vì Người đã là Mẹ của Đầu là Chúa Ki-tô thì cũng là Mẹ của toàn thân là Hội thánh.
 
 
 
“Đức Ma-ri-a đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu thế nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn” (HT. 61). (68)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đức Ma-ri-a là chi thể trổi vượt và là gương mẫu sáng ngời của Hội thánh, vì Người đã là Mẹ của Đầu là Chúa Ki-tô thì cũng là Mẹ của toàn thân là Hội thánh. (69)
 
 
 
Lc 11,27-28
Lc 1,42
 
Lc 8,21
Lc 11,28
 
 
 
Lc 1,19.51
 Lc 8,21 ; 11,28
3. Lòng tôn kính đối với Đức Mẹ.
  • Thấy Chúa Giêsu có sức lôi cuốn quần chúng và làm phép lạ tỏ tường, một thiếu phụ đã thốt lên: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm”. Chị gián tiếp khen ngợi Đức Maria là “người có phước hơn mọi người nữ”
  • Mẹ Maria đáng được khen ngợi, tôn kính vì Mẹ đã là người lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa. “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” 
  • Ta tôn kính Đức Maria thế nào?
  • Chiêm ngắm để khám phá ra đời sống thánh thiện, nhân đức, gương mẫu của Mẹ Maria mà noi theo bắt chước.
  • Đi theo con đường Mẹ đã đi: ghi nhớ, suy niệm trong lòng và đem ra thực hành
  • Lắng nghe và thực hành Lời Chúa,
  • Sốt sắng tham dự các ngày lễ kính Mẹ
  • Thường xuyên lần hạt kinh Mân côi, là kinh “tóm tắt Phúc âm”.
  • Tóm lại, chúng ta phải đặc biệt tôn kính, mến yêu, cầu xin và trông cậy Đức Mẹ. Nhất là chúng ta bắt chước các nhân đức của Mẹ, đi theo con đường Mẹ đã đi để được đến nơi Mẹ đã đến.
 
 
 
Chúng ta phải đặc biệt tôn kính, mến yêu, cầu xin và trông cậy Đức Mẹ. Nhất là chúng ta bắt chước các nhân đức của Mẹ, đi theo con đường Mẹ đã đi để được đến nơi Mẹ đã đến. (70)
 
D. Cầu nguyện: Lạy Mẹ Maria, Mẹ chí ái của chúng con, Mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa trong công cuộc cứu chuộc nhân loại bằng thái độ vâng phục Chúa một cách mau mắn. Xin giúp chúng con cũng biết mau mắn vâng theo Thánh ý Chúa với lòng yêu mến.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • Sứ thần vào nhà Trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà” (Lc 1,28).
  • Số 67 - 70.                                                                          
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Sinh hoạt và hát giáo lý cấp II.
2. Thực hành: Em luôn yêu mến và cầu nguyện với Mẹ
3. Bài làm ở nhà: Quét dọn và trang trí lại bàn thờ gia đình cho xứng hợp.
V. KẾT THÚC.
Trong giờ giáo lý hôm nay, chúng ta đã có dịp hiểu biết nhiều hơn về người mẹ chung của chúng: Đức Maria. Không ai chết trong tội nếu người đó biết chạy đến cùng Mẹ. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta một người mẹ tuyệt vời là Đức Maria, Đấng luôn luôn có mặt ở bên để yêu thương, chăm sóc chúng ta.
Kinh Sáng Danh...
 
…………………………………….
 
Bài 16: ƠN PHỤC SINH VÀ ĐỜI SỐNG VĨNH CỬU
 
Lời Chúa: “Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng người Con và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,28-29)
Ý chính   :  1. Mọi người sẽ sống lại (Ga 5,21-22.24-25.28-29).
                   2. Ý nghĩa sự chết (Dt 9,24.27-28).
                   3. Phán xét chung (Mt 25,31-34.41).
Tâm tình  : Vững vàng trông cậy vào Chúa và cố gắng sống thánh chờ ngày sống lại.
I. ỔN ĐỊNH.
1. Đón tiếp:
2. Thánh hóa: Lạy Chúa, sự Phục sinh của Chúa là một lời mời gọi chúng con đổi mới cuộc sống, để biết sống tận tình hơn với Chúa và với anh em. Xin cho chúng con biết noi gương Chúa Phục sinh, gieo rắc sự bình an và niềm vui, để ai gặp chúng con cũng gặp thấy sức sống mãnh liệt của Chúa.
3. Giới thiệu bài mới:
Truyện Tây Du Ký kể lại chuyện vua Đường bên Trung Quốc bị quỉ Dạ Xoa bắt xuống địa ngục. Vua được người lái đò chở qua 1 con sông lớn rồi chứng kiến bao cảnh hãi hùng nơi địa ngục như vạc dầu sôi, gông cùm, xiềng xích, chặt đầu, xẻ đôi người bằng cưa máy… Sau khi Diêm Vương tra lại sổ sách, thấy vua Đường chưa đến ngày tận số nên đã đưa vua trở lại trần gian. Sau đó, vua sai Đường Tam Tạng đi Tây Trúc cầu kinh
Trong giáo xứ chúng ta đã có nhiều người chết đột ngột vì bệnh hoặc vì tai nạn giao thông. Rồi lần lượt đến chúng ta, anh (chị) và cả các em nữa cũng sẽ đến ngày yên nghỉ trong lòng đất. Vậy số phận chúng ta sẽ ra sao sau cái chết? Có giống với cảnh khủng khiếp mà vua Đường đã chứng kiến không? Chúng ta sẽ biết về điều ấy qua nội dung bài hôm nay.
II. EM NGHE LỜI CHÚA.
A. Dẫn nhập:
Đaminh Saviô là một cậu bé rất dễ thương vì em tốt lành, luôn vâng lời cha mẹ và giúp đỡ bạn bè. Nhà nghèo, phải đi học xa, nên em thường đi bộ đến trường với đôi giầy đeo trên vai (em sợ đi nhiều sẽ mòn giầy). Một hôm trên đường đến trường, em gặp một người lạ đi cùng đường, người lạ bắt chuyện với em và hỏi thăm, em cho biết là mỗi ngày phải đi về tới 16 cây số. Nghe thế, người lạ hỏi: “Hằng ngày đi về con đường dài như vậy em có thấy mệt không?” Saviô trả lời: “Làm sao người ta có thể thấy mệt khi được trả công rất hậu”. Nghe thế, người lạ hỏi: “Em đi làm công cho ai?” Saviô trả lời: “Em đi làm công cho Chúa, và Chúa sẽ trả công rất hậu cho những ai làm việc vì lòng yêu mến Người”.
Điều mà Đaminh Saviô tin và sống đó có đúng không? Chúng ta lắng nghe chính Chúa dạy về sự thật này trong Tin Mừng Gioan. Mời các em cùng đọc Ga 5,21-22.24-25.28-29  (Mời đứng).
B. Công bố Lời Chúa: Ga 5,21-22.24-25.28-29  -   thinh lặng giây lát rồi gợi ý:
Lạy Chúa, loài người chúng con ai cũng phải chấm dứt cuộc đời trần thế này để về trình diện Chúa. Xin giúp chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa để chúng con cũng được sống lại và sống vĩnh cửu với Chúa trên Thiên đàng. (Mời ngồi)

C. Dẫn giải nội dung giáo lý:
 LỜI CHÚA DIỄN GIẢI NỘI DUNG GL
 
2 Mcb 7,9-38; 12,43-45
 
 
Ga11,25;24,30
 
Mt 22,23-33
 
 
Lc 24,34
Ga 5,24.40
Ga 7,63
Mc 12,27
Rm 8,11
1. Mọi người sẽ sống lại.
  • Niềm tin thân xác sẽ sống lại đã có từ bao giờ? Thời Cựu ước.
  • Niềm tin ấy được Chúa Giêsu tái xác nhận và củng cố thế nào?
  • Chúa Giêsu đã nhiêu lần làm cho kẻ chết sống lại: Ông Lazarô, con trai bà góa thành Naim …
  • Đức Giê su quả quyết khi tranh luận với những người Sa đốc: kẻ chết sẽ sống lại
  • Chúa Giêsu Kitô đã sống lại sẽ làm cho những ai tin vào Người được sống lại
 
  • Chúa Thánh Thần là Thần Khí làm cho sống mà Lời Chúa là Thần Khí và là Sự Sống
  • Chúa Cha, Đấng quyền năng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại thì Người cũng có dư quyền phép làm cho kẻ chết sống lại vì Người là Chúa  sự sống
  • Ngày nay Hội thánh tuyên xưng “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Ta tuyên xưng và sống niềm tin này vì chúng ta tin vào Thiên Chúa là Chúa kẻ sống, tin vào Chúa
    Ki-tô đã sống lại từ cõi chết và tin vào lời Người hứa ban sự sống lại cho những ai thuộc về Người.
2. Ý nghĩa sự chết.
  • Con người được Thiên Chúa tạo dựng “theo hình ảnh Người” được tham dự vào sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa nhưng ông bà nguyên tổ đã phạm tội nên con người phải chết
  • Chết là gì? Chết là chấm dứt cuộc sống ở trần gian, xác là vật chất nên hư nát, hồn là thiêng liêng nên không chết. Như thế, chết là linh hồn lìa khỏi xác.
  • Con người ta ai cũng sợ chết. Vậy mà 7 anh em cùng với bà mẹ dòng dõi Mac-ca-bê-ô lại tự nguyện chịu chết vì trung thành tuân giữ luật Chúa. Các Thánh tử đạo Việt Nam cũng đã hiên ngang tiến ra pháp trường, sẵng sàng chịu xiềng xích, tù đày. Nhờ đâu họ can đảm như thế? Mời các em đọc Dt 9,24.27-28 …. Đức Kitô đã tự hiến tế để xoá bỏ tội lỗi muôn người.
  • Như vậy, bằng mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh, Chúa Giêsu đã biến đổi ý nghĩa sự chết. Ai tin Chúa Kitô thì sẽ thế nào?
  • Chết là một mối lợi vì được ở với Chúa Kitô
  • Chết là đi về cùng Cha. Niềm tin này rất gần với niềm tin của người Việt Nam: sống gửi - chết về (sinh ký - tử qui).
  • Chết là sự sống được biến đổi: biến đổi từ cuộc sống trần gian bước vào cuộc sống mới vĩnh hằng, nhờ Chúa Giêsu Kitô
3. Phán xét chung. (GLV có thể kể chuyện về tòa án, hoặc vụ xử án nào mà các em đều biết, thí dụ:)
  • Mấy tháng trước, tòa tuyên án tử hình 2 tội nhân đã cướp của, giết người cách dã man rồi quảng xác xuống sông phi tang. Đấy là cách xử lý của luật pháp trần thế. Vậy Nước Thiên Chúa có tòa án không? … Các em cùng đọc Mt 25,31-34.41 
  • Sau khi chết, linh hồn thiêng liêng sẽ đến trước tòa Chúa Kitô để chịu phán xét riêng về quãng đời đã sống ở trần gian. Đấy là phán xét riêng.
  • Theo Tin mừng Mathêu chúng ta vừa đọc, phán xét chung diễn ra khi nào? Khi  Đức Ki tô quang lâm
  • Ai phải chịu phán xét ? Người công chính cũng như tội lỗi
  • Mọi người chịu phán xét về những gì?
  • Về mối tương quan với Thiên Chúa
  • Về cách đối xử với tha nhân, đặc biệt là đức bác ái
  • Những tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm …
  • Ai phán xét chúng ta trong ngày tận thế ? Chúa Giêsu (Con Người) đến trong vinh quang, có tất cả các thiên sứ theo hầu, ngự lên ngai vinh hiển mà xét xử toàn dân
  • Ta phải làm gì để được « thừa hưởng vương quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” ?  Làm lành lánh dữ, lắng nghe và làm theo tiếng lương tâm …
Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”, ta phải hiểu là thân xác con người sau khi chết sẽ hư nát, nhưng Thiên Chúa sẽ cho thân xác ấy được sống lại trong ngày tận thế. (71)
Chúng ta tin xác loài người sống lại vì ta tin vào Thiên Chúa là Chúa kẻ sống, tin vào Chúa Ki-tô đã sống lại từ cõi chết và tin vào lời Người hứa ban sự sống lại cho những ai thuộc về Người. (72)
 
 
 
 
 
Theo Ki-tô giáo, chết là kết thúc cuộc sống trần gian, là hậu quả của tội lỗi và là một biến đổi đi vào cuộc sống mới. (73)
 
 
 
 
Sẽ có phán xét chung vào ngày Chúa Ki-tô trở lại trong vinh quang. Lúc ấy, tất cả mọi người sẽ trình diện trước toà Chúa Ki-tô để trả lẽ về các hành vi của mình.
(74)
 
 
 
 
 
St 1,26-27
St 2,17
Rm 5,12
 
St 3,19
 
 
Mcb 7,1-42
 
Dt 9, 27-28
 
 
Pl 1,21
Ga 14,3; 17,24
1 Tx 4,17; Rm 5,19-21
 
 
 
 
 
 
 
 
Mt 25, 31-34. 41 
D. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, nhờ Chúa chịu chết và sống lại mà loài người chúng con được hy vọng bước vào đời sống mới sau khi qua đời. Xin giúp chúng con sống tốt lành để mai sau được hạnh phúc muôn đời.
III. EM NHỚ LỜI CHÚA.
  • “Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng người Con và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,28-29)
  • Số 71 - 74.
IV. EM SỐNG LỜI CHÚA.
1. Sinh hoạt: Tìm trong tập Sinh hoạt và Hát Giáo lý cấp II.
2. Thực hành: Câu chuyện dẫn đến thực hành:
Hoàng đế Frédérick vĩ đại của nước Phổ đang đi bộ dọc theo một con đường ở vùng ngoại ô Berlin thì tình cờ gặp một ông lão rất già. “Ông là ai?”, Frédérick hỏi với một chút tò mò khi hai người tạm dừng chân.
- “Tôi là một ông vua”, ông lão trả lời.
- “Một ông vua ?”, Frédérick lặp lại, “Ông cai trị trên lãnh địa nào ?”.
- “Trên chính mình”, ông lão trả lời một cách tự hào. “Tôi cai trị chính mình, vì tôi có quyền điều khiển mình. Tôi là vua  của chính tôi”.
Tất cả chúng ta đều có thể là vua theo ý nghĩa của cụ già này: chúng ta là vua để điều khiển con người chúng ta phục vụ Thiên Chúa và anh em mình. Nếu chúng ta biết điều khiển chính mình luôn sống theo luật Chúa, thì trong ngày tận thế, chính Thiên Chúa sẽ ban thưởng cho tất cả những việc tốt lành ta đã làm.
Thực hành: Mỗi ngày em làm một việc giúp bạn vì giúp bạn là giúp Chúa. Em sẽ được Chúa thưởng công sau này.
3. Bài làm ở nhà: Em vẽ hình mình đang đội mũ triều thiên.
V. KẾT THÚC:
Các em thân mến, qua bài học hôm nay, chúng ta đã biết được Chúa Giêsu yêu thương đã đến và cứu độ chúng ta, làm cho chúng ta được sống lại với Người. Nhưng chúng ta chỉ thực sự được thông chia sự sống lại của Chúa khi chúng ta biết sống tốt lành như Chúa dạy. Vậy các em hãy yêu mến, tôn thờ Chúa và sống bác ái với tha nhân, dám chịu trách nhiệm và thành thật xin lỗi khi lỡ làm điều gì sai trái.
Kinh Sáng Danh...
 
…………………………………….
Nhóm Huấn giáo Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp  
Thông tin khác:
Thánh Lễ Kỷ Niệm 75 Năm Thành Lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa
LIÊN KẾT WEBSITE

Thiết kế web - Thiet ke website: OnIP™ - www.onip.vn - mCMS.
Origin site: www.mtghunghoa.org!
log